Thursday, 18 March 2010

Tác giả Màu tím hoa sim đã ra đi…



Ngày 18.03.2010 Giờ 23:53

Trích đoạn

Đoạn trích sau đây lấy từ bản đăng trên báo Tuổi trẻ Online [2]:

Màu tím hoa sim

HỮU LOAN

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

Nhà thơ Hữu Loan và vợ – bà Phạm Thị Nhu năm 2009. Ảnh: Hồ Trần

Vào lúc 19g00 tối nay 18.3.2010, nhà thơ Hữu Loan, tác giả của bài thơ "Màu tím hoa sim" đã vĩnh viễn từ giã cõi đời khi chuẩn bị bước sang tuổi 95 (12.4.1916 – 18.3.2010). Trong lúc chờ đợi con cái về đông đủ, bà Nhu, vợ ông và 4 người con ở quê đã khâm liệm đặt ông vào quan tài yên nghỉ vào lúc 23g cùng ngày.

Nhà thơ Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, quê làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông đậu tú tài nhưng về quê mở trường dạy học và hoạt động phong trào Mặt trận Bình dân. Năm 1943 , ông gây dựng phong trào Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Sau Cách mạng Tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban hành chính lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Kháng chiến chống Pháp ông thuộc Đại đòan 304. Sau năm 1954, ông làm việc tại báo Văn Nghệ

Bài thơ "Đèo cả" mở đầu sự nghiệp thi văn của ông đã vang danh khắp chiến trường kháng chiến chống Pháp. Tiếp đó, người vợ đầu tiên Nguyễn Thị Ninh mất (1949) và ông nghe tin dữ khi đang trên đường hành quân khiến ông đã viết lên những vần thơ bất hủ "Màu tím hoa sim" đi sâu vào lòng người cho đến tận bây giờ và có lẽ cũng là mãi mãi.

Lấy người vợ thứ hai vào năm 1954, bà Nguyễn Thị Nhu, ông tiếp tục làm ở báo Văn Nghệ cho đến khi bị đi tù với nỗi oan nghiệt dính vào nghiệp văn chương. Ra tù, ông trở về quê đục đá kiếm sống nuôi 10 người con và sống với những ký ức vừa đẹp đẽ vừa đau thương cho đến ngày hôm nay, bên cạnh người vợ tần tảo, thủy chung.

Đêm nay, xin thắp một nén hương thiêng vĩnh biệt linh hồn người thi sĩ đáng kính.

Ngân Hà

source

http://sgtt.com.vn/Detail29.aspx?ColumnId=29&newsid=64433&fld=HTMG/2010/0318/64433

Wikipedia Tieng Viet

Wednesday, 10 March 2010

Thời trang mùa Xuân ở New York


Cập nhật lúc 2:47:27 AM - 01/03/2010

Ảnh: Mercedes-Benz Fashion Week.


NEW YORK – Tổng kết một tuần lễ thời trang tại New York với những kiểu dáng dành cho mùa Xuân, ban biên tập Mercedes-Benz Fashion Week chọn lựa một số hình ảnh tiêu biểu của những nhà thiết kế tham dự trình diễn bộ sưu tập vào tháng 9-2009.

Mercedes_Benz_01.jpg

Mercedes_Benz_02.jpg

Mercedes_Benz_03.jpg

Mercedes_Benz_04.jpg

Mercedes_Benz_05.jpg

source

VienDongDaily

Monday, 8 March 2010

Tượng Nữ Thần Tự Do ở New York



Friday, February 05, 2010



medium_Du Lich Tuong DSC1701.jpg

Tượng Nữ Thần Tự Do do Pháp trao tặng được đặt ở cửa vào hải cảng New York.

medium_Du Lich Ferry 1703.jpg

Phà sang đảo có tượng Nữ Thần Tự Do.

medium_Du Lich Crown 1704.jpg

Vương miện trên đầu tượng được chụp từ dưới chân tượng.

medium_Du Lich Spiral 1705.jpg

Thang xoáy trôn ốc để lên viếng vương miện.

medium_Du Lich Cong Vien 1706.jpg

Cảnh đợi phà ở công viên Battery trên đường ra đảo Nữ Thần Tự Do.


Ký sự du lịch

Bài và ảnh: Trịnh Hảo Tâm

Tượng Nữ Thần Tự Do (Statue of Liberty) nằm trên đảo nhỏ ở phía Tây Nam thành phố, ngay cửa sông Hudson đi vào hải cảng New York. Tượng bằng đồng mô tả một người đàn bà mặc chiếc áo thời La Mã, tay phải cầm ngọn đuốc giơ cao, tay trái ôm một bảng khắc, đầu đội vương miện. Tượng được khánh thành ngày 28 tháng 10, 1886 do người Pháp trao tặng nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày nước Mỹ ký kết bảng Tuyên Bố Ðộc Lập khỏi vương quốc Anh. Tượng Nữ Thần Tự Do to lớn đứng ở hải cảng New York để chào đón những di dân đi bằng tàu thuyền tới nước Mỹ, suốt hơn 124 năm qua từng là hình ảnh biểu tượng cho Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ, một quốc gia có nền dân chủ dựa trên hiến pháp cũng là một trong những nước giàu mạnh nhất trên giới.

Từ khu Phố Tàu New York chúng tôi lái xe về hướng Nam trên đường Broadway, đến công viên Battery ở cuối đảo Manhattan sẽ gặp bến phà South Ferry để sang viếng tượng Nữ Thần Tự Do nằm ngoài đảo cách bờ chừng 2 km. Ở bến phà rất khó tìm chỗ đậu xe, thường là của tư nhân với giá khá cao nên tốt nhất đến đây bằng xe điện ngầm Subway và xuống ở trạm ga South Ferry. Từ phía bên thành phố New Jersey cũng có phà viếng tượng Nữ Thần Tự Do, bến phà ở công viên Liberty State Park nơi đây đậu xe dễ hơn. Du khách có thể đi từ bến phà New Jersey rồi khi trở về lên ở bến phà South Ferry và ngược lại. Ở bến phà có quày bán vé sang viếng tượng Nữ Thần Tự Do hoặc viếng thêm nhà Bảo Tàng Di Trú trên đảo Ellis nằm gần bờ, tuy nhiên muốn viếng cả hai nơi phải đi trước 2 giờ chiều mới có đủ thời giờ thăm cả hai đảo.

Tuy vé lên tượng Nữ Thần Tự Do được bán tại bến phà nhưng nếu muốn trèo lên vương miện, vì giới hạn số người lên đó nên thường hết vé. Do đó tốt nhất nên đặt mua trước trên Internet hay gọi điện thoại. Viếng tượng Nữ Thần Tự Do có hai loại vé: loại Crown Ticket là vé thăm cả 3 nơi là nhà Bảo Tàng dưới chân tượng, hành lang ngắm cảnh phía trên nóc của tòa nhà dùng làm bệ chân tượng và leo thang trôn ốc lên tới vương miện trên đầu tượng. Giá khá rẻ chỉ có 15 USD cho người lớn và trẻ em 12 tuổi trở lên, cao niên trên 62 là 13 USD và trẻ con từ 4 đến 12 tuổi là 8 USD. Loại vé không lên vương miện nghĩa là chỉ viếng Bảo Tàng và hành lang ngắm cảnh ngay phía dưới chân tượng thì giảm 3 USD cho mỗi loại vé. Còn vé xuống phà phải mua riêng cũng bằng giá vé viếng tượng Nữ Thần Tự Do mà không lên vương miện. Nếu chỉ mua vé phà không thôi thì chỉ dạo chơi công viên trên đảo Tự Do mà không vào nhà Bảo Tàng cũng như khỏi qua thủ tục khám xét về an ninh vì đề phòng khủng bố phá hoại tượng sau biến cố 11 tháng 9, 2001.

Chúng tôi đã mua vé trước trên Internet qua Website www.statueoflibertytickets.com trước vài ngày nên khi tới bến phà chỉ chờ phà sang đảo Tự Do (Liberty Island) cách bờ khoảng 2 km nên phà chạy 20 phút là tới. Phải sẵn sàng máy ảnh vì trên phà chụp những cao ốc khu Manhattan soi bóng trên mặt biển rất đẹp và tượng Nữ Thần Tự Do ngạo nghễ giữa biển trời bao la. Ðến đảo có tượng Nữ Thần Tự Do phải “check in” ở Information Center qua thủ tục khám xét rồi vào bên trong tòa nhà dùng làm bệ chân tượng nay làm nhà Bảo Tàng Tượng Nữ Thần Tự Do và bán quà kỷ niệm. Ðể lên nóc hành lang ngắm cảnh du khách phải dùng thang bộ. Trước kia có thang máy nhưng hiện nay đang đóng vì an ninh hay tu bổ gì đó? Tới nóc tòa nhà là hành lang ngắm cảnh nằm ngay dưới chân tượng, ở đây chụp ảnh, đi một vòng ngắm cảnh, nghỉ mệt sau đó tiếp tục vào bên trong để leo cầu thang bên trong bức tượng để lên chiếc vương miện trên đầu tượng.

Ðường lên vương miện

Ðường lên vương miện cũng khó khăn nhọc nhằn như trèo lên Vạn Lý Trường Thành, tuy không xa và mệt như trèo Vạn Lý Trường Thành nhưng ở đây lại nóng và ngộp! Nếu không đi thì không biết, nên khi tới New York là phải thăm tượng Nữ Thần Tự Do mà đến tượng rồi thì phải lên vương miện. Vương miện đã đóng cửa từ ngày khủng bố 11 tháng 9, 2001 mới mở lại nhân ngày Quốc Khánh 2009 vừa qua. Phải trèo 146 bậc thang trôn ốc bằng sắt mà chiều ngang rất hẹp chỉ vừa một người đi, tôi trèo hơi chậm nhưng những người phía dưới cũng kiên nhẫn chờ và bước chậm theo sau. Mỗi giờ chỉ cho vào 3 toán và mỗi toán khi lên tới phần đầu tượng bên trong vương miện chỉ cho vào mỗi lần 10 người. Ði bên trong tượng chỉ nhìn thấy chằng chịt những khung sắt có phần ghê rợn nhất là nóng bức vì không khí thường cao hơn bên ngoài khoảng 15 đến 20 độ F. Phía trong vương miện nhìn ra ngoài bằng 25 cửa sổ nhỏ, khung cửa lớn nhất cao khoảng 18” (46cm) nên tầm nhìn cũng giới hạn chỉ thấy một phần trời đất bên ngoài. Hôm nay có gió nên phần đầu tượng đong đưa tới lui, tuy được cho biết là an toàn nhưng cũng có cảm giác rờn rợn. Theo tài liệu khi xây tượng người ta để một độ hở cho đầu tượng di chuyển tới lui trong khoảng cách 3 inches (76mm) trong trường hợp sức gió lên đến 50 miles/giờ (80km/giờ) và ở phần cây đuốc cao hơn người ta để độ hở là 5 inches (130mm). Thà cho xê dịch còn hơn làm khít khao sẽ bị gãy đổ khi bị bão tố. Thời tiết xấu hay an ninh đe dọa, tượng được đóng cửa và hoàn lại tiền vé còn không thì dời lại ngày khác.

Kiến trúc tượng

Tượng Nữ Thần Tự Do lớp bên ngoài làm bằng đồng nguyên chất khi mới có màu đỏ nhưng nay màu xanh xám là vì phản ứng hóa học giống như rỉ sét do tiếp xúc với muối biển và những chất khác trong không khí. Lớp vỏ đồng bên ngoài được treo và nâng đỡ bằng hệ thống giàn giá bằng sắt bên trong thân tượng. Tượng diễn tả một người đàn bà vận chiếc áo choàng thời La Mã gọi là “stola”, đầu đội chiếc vương miện có 7 mũi nhọn tượng trưng cho tia nắng của vầng thái dương, chân tượng mang dép xăng đan đạp trên sợi dây xích đứt đoạn. Cánh tay mặt cầm ngọn đuốc đưa thẳng lên cao, riêng ánh lửa hiện nay được mạ vàng sáng loáng và tay trái ôm một tấm bảng khắc ngày 4 tháng 7 năm 1776 bằng số La Mã (VII IV MDCCLXXVI) là ngày Hoa Kỳ tuyên bố độc lập. Tượng cao 151 ft (46m) được đặt trên một bệ (pedestal) bằng đá hình chữ nhật phía dưới là phần nền móng hình ngôi sao 11 góc khiến tượng có tổng chiều cao là 305 ft (93m).

Lịch sử bức tượng

Một nhóm chính trị gia Pháp muốn có một món quà trao tặng nước Mỹ nhân dịp đánh dấu 100 năm ngày độc lập của Hoa Kỳ nên giao cho nhà điêu khắc Frédéric Bartholdi sứ mạng thiết kế một bức tượng nào đó và phải hoàn tất trước năm 1876. Bức tượng ông Bartholdi đề xướng có tên Nữ Thần Tự Do gây nhiều dư luận trong chính trường Pháp vì thời ấy tuy với chính thể dân chủ Ðệ Tam Cộng Hòa nhưng một số chính trị gia trong chính quyền Pháp muốn trở lại chế độ quân chủ có vua chúa hay ít ra cũng tự do dân chủ một nửa như dưới thời Hoàng Ðế Napoléon.

Tượng nhỏ dùng làm mẫu bằng đất nung được đắp năm 1870 (hiện được trưng bày trong Bảo Tàng Nghệ Thuật Lyon) và tượng đúc bằng đồng tỉ lệ nhỏ do nhóm Mỹ kiều ở Paris trao tặng thành phố Paris ngày 13 tháng 5, 1885 hiện còn lưu giữ ở Ile des Cygnes bên Pháp. Ðiêu khắc gia Bartholdi đặc trách xây tượng khi sang Ai Cập thấy kinh đào Suez mới xây có hải đăng to lớn ở cửa biển nên ông nảy sinh ý tưởng phải xây tượng Nữ Thần Tự Do thật to lớn vĩ đại và đặt ngọn hải đăng trên đó. Về Pháp ông đề nghị người Mỹ xây chân tượng còn Pháp sẽ trách nhiệm đúc tượng thật lớn và ráp ở Mỹ. Nhóm làm tượng ở Pháp ráo riết chương trình gây quỹ với những buổi hòa nhạc do nhạc trưởng Charles Gounod dàn dựng ở hí viện Paris Opera với đề tài “Tự Do Thắp Sáng Thế Giới” cũng như tổ chức xổ số và gây quỹ được khoảng $250,000. Ở Mỹ cũng có chương trình gây quỹ tương tự để kiếm tiền xây chân tượng.

Ông Bartholdi phải tìm kỹ sư về cấu trúc vì tượng đồng quá lớn phải làm giàn giá vững chắc bên trong nhất là đặt ở cửa biển thường bão tố và ông giao cho Gustave Eiffel (người thiết kế tháp Eiffel) có nhiệm vụ điều nghiên làm cây cột sắt chống đỡ với những sườn sắt để dựng được cái vỏ tượng đồng đứng lên vững vàng. Ông Eiffel được phụ tá trợ giúp chi tiết là kỹ sư về cấu trúc Maurice Koechlin. Ông Bartholdi muốn tượng hoàn tất và giao cho Hoa Kỳ đúng ngày 4 tháng 7 năm 1876 nhưng không kịp vì những trở ngại bất ngờ, lúc đó chỉ cánh tay phải cầm cây đuốc đã xong. Cánh tay ấy được vội chở sang Mỹ và trưng bày trong Hội Chợ Kỷ Niệm 100 Năm Ðộc Lập mở tại Philadelphia, khách viếng phải trả 50 xu để leo cầu thang lên ngọn đuốc. Số tiền được bổ sung vào ngân khoản xây tòa bệ chân tượng. Ở Paris nhân Hội Chợ Paris năm 1878 phần đầu bức tượng được trưng bày trong công viên Trocadéro Palace cũng như những phần khác của bức tượng được đưa ra cho công chúng xem ở Công Trường Chiến Thắng gần Khải Hoàn Môn.

Bên Mỹ đảo nhỏ tên Bedloe trước kia có đồn lính Fort Wood hình ngôi sao nằm gần hải cảng New York được Hạ Viện chấp thuận bằng đạo luật ngày 3 tháng 3, 1877 là nơi đặt tượng Nữ Thần Tự Do theo ý kiến của ông Bartholdi và ngày 18 tháng 2, 1879 giấy chứng nhận chủ quyền thiết kế (Design Patent) bức tượng được cấp cho ông Bartholdi mô tả rõ ràng về bức tượng cũng như họa đồ. Bên Pháp việc gây quỹ đã hoàn tất vào tháng 7, 1882 nhưng bên Mỹ vẫn còn thiếu tiền để xây chân tượng do kiến trúc sư Richard Morris Hunt phụ trách nên việc xây phải ngưng lại. Chủ báo “The World” là ông Josepth Pulitzer (sáng lập giải Pulitzer) dùng tờ báo của mình đứng ra hô hào chỉ trích những nhà tài phiệt không đóng góp cho bức tượng, nhờ vậy tài chánh cũng có thêm và công việc được tiếp tục vào tháng 5, 1885.

Bức tượng được đưa tới hải cảng New York vào ngày 17 tháng 6, 1885 bằng chiến hạm Pháp tên “ Isère” chạy bằng hơi nước do thuyền trưởng Lespinasse De Saune chỉ huy. Ðể chuyên chở không cồng kềnh, tượng được tháo ra làm 350 mảnh nhỏ xếp trong 214 thùng gỗ. Hoa tiêu hải cảng là Joseph Henderson hướng dẫn chiến thuyền “Isère” vào vịnh New York và cặp bến an toàn vào đảo Bedloe. Ðảo này mãi tới năm 1956 mới chính thức đổi tên thành đảo Liberty (Tự Do) mặc dù người ta đã gọi tên đó từ đầu thế kỷ.

Vận động tài chánh xây chân tượng kết thúc ngày 11 tháng 8, 1885 và chân tượng hoàn tất ngày 22 tháng 8, 1886 sau khi 2 cặp gồm 8 đà sắt khổng lồ được chôn trong bê tông đưa thẳng lên nhằm nối kết giữa bệ chân tượng và sườn sắt của thân tượng. Những phần của bức tượng sau 11 tháng nằm trong thùng chứa chờ đợi chân tượng hoàn thành nay được mang ra đem ráp vào mất 4 tháng. Ngày 28 tháng 10, 1886 khăn che tượng Nữ Thần Tự Do được Tổng Thống Grover Cleveland vén ra trước hàng ngàn cử tọa, trước đây ông này khi còn là thống đốc tiểu bang New York đã từng... phủ quyết dự luật cấp $50,000 để xây chân tượng! Mười năm sau đó nước Mỹ đã tặng lại cho Pháp 10 triệu đồng trong các chương trình từ thiện.

Tượng Nữ Thần Tự Do có nhiệm vụ như ngọn hải đăng hướng dẫn tàu bè từ ngoài khơi đi vào cảng New York từ năm 1886 đến 1902 và đặt dưới quyền quản lý của Hội Ðồng Hải Ðăng Hoa Kỳ. Ðây là ngọn hải đăng của Mỹ đầu tiên dùng đèn chiếu sáng chạy bằng điện có thể thấy từ ngoài khơi cách xa 24 miles (39km). Ngọn đèn hải đăng ban đêm quyến rũ hàng trăm chim biển bu vào và nằm chết dưới bệ tròn quanh ngọn đèn. Mỗi ngày người quản đăng giữ ngọn đèn phải ra dọn dẹp. Trong thời Ðại Chiến Thứ Nhất, năm 1916 vụ nổ kho thuốc súng do đặc công Ðức Quốc Xã phá hoại làm hư hại tượng Nữ Thần Tự Do, mức thiệt hại tính theo thời giá hiện nay là 2 triệu đồng và người ta thay ngọn đèn bằng lồng đèn hình ngọn lửa với kính cửa sổ nhà thờ màu vàng. Năm 1986 thay lồng đèn bằng ngọn đuốc có những ánh lửa là những miếng kim loại dát vàng được chiếu sáng bằng những ngọn đèn spotlights từ phía dưới rọi lên. Sau biến cố 9-11 đảo Liberty đóng cửa và mở lại vào tháng 12, 2001 và tượng được mở trở lại cho du khách viếng ngày 3 tháng 8, 2004. Vương miện và thang trôn ốc bên trong được mở cho du khách lên viếng từ 4 tháng 7, 2009.

Tượng Nữ Thần Tự Do chân đạp xích xiềng nô lệ, tay cầm ngọn đuốc soi đường đứng ở cửa biển đi vào New York hơn trăm năm đã từng chào đón không biết bao nhiêu đoàn người tỵ nạn từ Âu Châu đi thuyền tới nước Mỹ sau một cuộc hải hành gian nan liều chết ra đi. Có thể nói (...) là một trong số người đó, ngày 30 tháng 3, 1979 từ (...) Thái Lan chúng tôi đã vào nước Mỹ qua cửa phi trường New York. Trên chính (...) bị ngược đãi kỳ thị trong khi trên xứ người được ân cần chào đón và chúng tôi đã lập cuộc đời mới, đóng góp ít nhiều trên đất mới. Trở lại đây thăm Nữ Thần Tự Do để nói lời cám ơn, mong ánh đuốc Tự Do của Bà soi rọi khắp mọi miền trên thế giới, xua tan bóng tối bất công, áp bức để mọi người được tự do, hạnh phúc...

Trịnh Hảo Tâm

Cùng ngòi bút lãng du Trịnh Hảo Tâm, đã phát hành 5 quyển ký sự du lịch: “Trên Những Nẻo Ðường Việt Nam”, “Miền Tây Hoa Kỳ”, “Trung Quốc”, “Mùa Thu Ðông Âu” và “Tây Âu Cổ Kính”. Ðộc giả từng thích thú theo dõi các chuyến đi của tác giả trên Người Việt có thể tìm mua tại các nhà sách, đồng giá 15 USD mỗi quyển. Ở xa gởi ngân phiếu 15 USD về tác giả, sách có chữ ký sẽ được gởi đến tận nhà (bao cước phí):


Trịnh Hảo Tâm

source

NGUOI VIET Du Lich

Saturday, 6 March 2010

Mùa nắng nóng, Las Vegas càng "hot" về đêm



Cập nhật lúc 8:06:26 PM - 06/07/2009

Bài và ảnh: Phụng Linh/Viễn Đông

Tôi theo chân gần 50 thầy cô giáo Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng (thành phố Westminster, Quận Cam) và gia đình lên xe buýt trực chỉ thành phố "ăn chơi" Las Vegas khoảng 10 giờ sáng, thứ Bảy, 27 tháng Sáu. Ánh nắng chói chan và dự báo thời tiết trên 100 độ F (gần 40 độ C) tại Las Vegas khiến chúng tôi đều "nhất tề" "nai nịch" gọn gàng trong những chiếc áo pull sát nách, áo hai dây, nón và... nước uống. Chưa bao giờ chúng tôi đi "đốt đèn điện" ở Las Vegas trong tư thế của người đi picnic như thế.


hinh-1.jpgGhé lại khu mua sắm Tanger Outlet thuộc thành phố Barstow, chúng tôi có một tiếng đồng hồ để vào các cửa hàng - toàn là hàng hiệu, từ Calvin Klein, Coach, Guess, Old Navy, Polo Ralph Lauren, Samsonite... Thấy giá tương đối "mềm", vài người trong đoàn cũng "rinh" mỗi người một chiếc áo khoác, một đôi giày, chiếc ví... Chỉ mới đến Barstow, chúng tôi đã bắt đầu "bốc lửa" bởi hơi nóng hầm hập. Hầu hết đều phải chạy vội vào các cửa hàng để được hưởng chút hơi mát. Trở lại xe, trong sức nóng làm chúng tôi muốn "thè lưỡi" nhưng không ai thấy mệt vì bận... cười, giỡn và kể chuyện tiếu lâm.

Chiếc xe tiến đến thành phố Las Vegas, đi vào con đường The Strip - đại lộ "xương sống" của những khách sạn chọc trời ở hai bên. Năm nào cũng đi Las Vegas, mà lần nào đến, tôi vẫn thấy lạ. Ban tổ chức dặn dò "đường đi nước bước", chỉ dẫn và giới thiệu vài show diễn buổi tối. Một ai đó bỗng buột miệng kêu lên: "Đừng lo, kinh tế suy thoái và vào mùa nắng nóng này... nó ế lắm, tha hồ mà xem, không cần phải mua vé trước". Nhưng, chúng tôi đã lầm. Sòng bài của khách sạn Imperial, nơi chúng tôi đến, đông nghẹt du khách, và chúng tôi phải xếp hàng dài dài chờ thang máy đưa lên phòng. Có người - trong đoàn khác - bực bội, làu bàu vì chờ lâu quá. Có người quày quả đi lên... thang bộ.

[Las Vegas Strip la liệt hình ảnh các "kiều nữ"... dưới lòng đường.]

Buổi chiều, ra xe đến nhà hàng để ăn tối, chúng tôi như muốn... cởi tung chiếc áo, trừ nón và mắt kính che nắng. "Nóng dễ sợ", có người buột miệng than. Chiếc xe của chúng tôi cũng bị sa vào "trận đồ bát quái", chỉ có thể nhích dần từng bước tại khu trung tâm...

Đến tối, tôi nhập vào một nhóm 12 người "xuống phố" dạo chơi. Cho đến tám giờ đêm, trời vẫn nóng "như điên". Hơi nóng từ trên xuống, từ dưới dội lên, khiến chúng tôi mồ hôi nhễ nhại. Ấy vậy mà dòng người đi bộ vẫn đen nghịt hai bên hành lang đường The Strip.

Ở trung tâm thành phố, phía trước khách sạn Caesars, hàng chục người đứng dọc trên lề đường dành, tay cầm cả xấp hình ảnh đủ màu phát cho người qua lại. Một cách thành thạo, họ tay đưa, miệng nói... hết người này đến người kia. Một chị vừa cầm lấy cả xấp, nhìn thấy toàn những "kiều nữ sexy", kêu lên: "Ủa, sao lại đưa hình đàn bà cho tôi, mà không đưa hình đàn ông?" Cả nhóm chúng tôi bật cười ha hả, không biết giải thích như thế nào.

hinh-3.jpg[Đền thờ của người Thái Lan.]

Dòng người nhung nhúc, chẳng ai không đi mau được. Người đi sau cứ thả theo người đi trước, thỉnh thoảng ngoáy lại trông chừng bạn mình. Con đường The Strip lên đèn rực rỡ, thành phố Las Vegas nhìn từ xa không khác những tòa nhà đủ mọi hình dáng nạm ngọc lấp lánh dưới trời đêm.

Chúng tôi ghé lại ngôi đền Brahma Shrine của Thái Lan, thờ Phật tám tay, cùng thắp nhang, cầu nguyện. Một chị trong đoàn thì thào bảo: "Ngôi đền thiêng lắm, ráng cầu nguyện cho người thân tai qua nạn khỏi, và đừng quên cầu nguyện cho cả mình nữa". Ngôi đền nhỏ được xây trước nhà hàng Serendipity 3, cách khách sạn Bally không xa. Vào ban đêm, tôi không định hướng được đâu là đâu, chỉ thấy đèn và... người. Bên cạnh ngôi đền có cả một khu nhà có mái che, có bàn ghế cho du khách ngồi, với hệ thống phun hơi nước ở phía trên. Cho tới chín giờ đêm, vẫn còn nhiều người "chui" vào khu nhà này trốn nóng.

Một địa điểm mà chúng tôi không quên được là khu shopping của khách sạn Paris, với cả khu phố cổ của châu Âu được tái hiện, của Pháp, Ý, Hòa Lan... Chúng tôi dừng lại trước một quầy với gần 10 chiếc tủ đứng lựa mua nữ trang, đá quý, ngọc trai... loại rẻ tiền. Có lẽ vào mùa "sale" nên giá bán thấp, so với một số thành phố du lịch khác, ba vòng đá đeo tay khoảng $20.

Ở Las Vegas Strip, màn "múa nước" cứ 15 phút lại xuất hiện một lần. Những tia nước từ dưới hồ bắn lên đủ mọi hình thù, nhịp nhàng theo điệu nhạc sôi nổi khiến ai nấy đều phải chạy vội lại, đứng nhìn, bấm máy lia lịa.

Hinh-4.jpg[Màn múa nước.]

Cho đến mười giờ rưỡi đêm, chúng tôi mới quay trở lại khách sạn vì... đi hết nổi. Đoàn đi coi show "The Lion King" cũng quay trở về khách sạn tấm tắc khen hay nhưng cũng tiếc giá vé tới $86/người. Còn những người không dạo phố, cũng không coi show, khó mà đoán được họ đi đâu. Các sòng bạc Las Vegas hoạt động thâu đêm, quý bà du khách Việt ít khi nào chịu khó "cúng tiền điện". Còn quý ông thì... ít ai chịu tiết lộ "con số tổn thất". Chị em mình trước đó đã bảo nhau, thà mua sắm còn hơn để tiền... cúng cho sòng bài.

Sức nóng thiêu đốt con đường The Strip đêm qua có vẻ dịu lại vào buổi sáng hôm sau. Bộ mặt thành phố bơ phờ, ngái ngủ. Mấy chiếc xe hốt rác mini chạy tới chạy lui, "thu dọn chiến trường" la liệt hình ảnh các kiều nữ trên lề đường, lùm cây.

Tôi lục đục khăn gói theo đoàn trở về Nam California, lòng tự hỏi "không biết đêm qua, mọi người làm gì nhỉ?" Có bao nhiêu người đánh bài và bao nhiêu người đi theo tiếng gọi của các cô kiều nữ với những cái tên gọi mỹ miều: Cherry, Sarah, Mindy, Gisele, Mariah, Mia, Amy và Alexa, Bree, Lizzy... với đủ giá, từ $35 - $47 - $69 cho tới $150, $200 và cả... free nữa.

source

VienDongDaily

Friday, 26 February 2010

Một loài hoa mãi ngát thơm


Cập nhật lúc 3:30:05 AM - 21/02/2010

khanhha1.jpg


Ai dám bảo Nàng già?
Nàng, vẫn đẹp, rất đẹp nữa là khác.


Những ngọn lửa của thập niên 70, 80, 90 cuồn cuộn bốc cháy, đầy đam mê. Thì ngày nay được Nàng e ấp giấu kín vào phía đằng sau tà áo dài.
Nhưng lạ, mặc dù chiếc áo dài làm Nàng thêm chút đằm thắm, nhưng lại càng làm nàng hấp dẫn hơn nữa. Bởi vốn dĩ của tà áo dài là như vậy rồi. Và chiếc áo dài cũng vẫn không thể che lấp đi được cái nút ruồi nồng nàn giữa hai cánh ngực của Nàng. Một chút gì đó mờ mờ, ảo ảo càng đẹp vô cùng...
Ngọn lửa Nàng có thể làm bừng cháy hai ngàn chiếc ghế trong một khán phòng, không còn một chỗ trống nào cả.
Làm thay đổi màu sắc không gian của một khán phòng cũng là Nàng.
Mà thời gian cũng không là vấn đề, bởi Nàng có thể hát liên tục nhiều bài hát theo lời yêu cầu của khán giả với những tiếng bis...bis...bis.
Nàng là ngôi vị số một trong thế giới nhạc thính phòng trong suốt bốn thập niên qua.
Tên của Nàng là Khánh Hà.
Một chút xíu thôi, chút xíu gió của Đà Lạt, nơi Khánh Hà cất tiếng khóc chào đời, đã làm nên một cái gì đó như thể là nghèn nghẹn trong lời ca. (Một chút xíu thôi, bởi vì Khánh Hà sinh ra tại Đà Lạt, nhưng chỉ sau đó vài tháng là cùng gia đình về sống tại Sài Gòn).
Tiếp theo đó, nắng Sài Gòn đã làm nên một Khánh Hà khỏe hơn trong tiếng hát, mặn mà hơn trong làn da ngăm ngăm đen bánh ít, và sexy hơn trong cách chọn lựa cho mình những “bộ cánh”, và một phong cách diễn riêng, hoàn toàn không giống ai, mà cũng chẳng ai có thể giống được Nàng.
Độc đáo nhất vẫn là cái đẹp miên viễn mà Mẹ dành riêng cho một mình Hà, đó là đôi mắt. Một đôi mắt tròn xoe. Đôi mắt làm cho Hà không bao giờ già được, đến bây giờ mà Hà vẫn ngây thơ đến tội nghiệp. Mà đúng thật, người ta vẫn thường nói “Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn”. Đố ai mà tìm thấy những cân đo, toan tính trong đôi mắt này.
Đâu phải cứ “hồng nhan” là “bạc phận”. Khánh Hà đến Mỹ năm 1975, trước hàng trăm ngàn người Việt Nam khác vào thời đó. Một ký giả người Mỹ tên George. Ân nhân của Khánh Hà đưa Hà đến Mỹ bằng chiếc Boeing với ghế nệm êm ái và thực đơn ăn uống đủ ba món.
Còn nữa, chưa hết!!!
Ai dám bảo là “xướng ca vô loài”. Riêng Khánh Hà, hai mươi năm, một mối tình. Gặp gỡ Tô Chấn Phong trong Video Hè 90. Và cũng kể từ đó trăm năm vĩnh cửu một mối tình. Khánh Hà + Tô Chấn Phong. Họ có với nhau một con trai, nay đã 15 tuổi rồi.
Đó là tất cả những lý do mà Khánh Hà có thể hát tất cả các thể loại nhạc. Tha thiết nhất vẫn là những dòng nhạc tình của Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng. Chưa kể đến những loại nhạc cổ điển hay nhạc ngoại quốc.

Tình Ca
Phải nói rằng, hễ ai chưa yêu nhau thì sẽ yêu nhau. Còn ai đã yêu nhau rồi thì sẽ yêu nhau nhiều hơn nữa, khi mà những tình khúc như Em Đến Thăm Anh Đêm 30, Mùa Thu Paris, Này Em Có Nhớ, Tháng Giêng Và Anh, Ngày Đó Chúng Mình, Hạ Hồng... được tiếng hát Khánh Hà hát lên.
“Em đến thăm anh đêm 30
còn đêm nào vui bằng đêm 30
anh nói với người phu quét đường
xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em.


Tay em lạnh để cho tình mình ấm
môi em mềm cho giấc ngủ anh thơm
sao Giao Thừa xanh trong đôi mắt mòn
trời sắp Tết hay lòng mình đang Tết

Tháng ngày đã trôi qua
tình đã phôi pha
người khuất xa
chỉ còn chút hương xưa
rồi cũng phong ba
rụng cùng mùa

Dòng sông đêm
hồn đen sâu thao thức
ngàn vì sao mọc
hay lệ khóc nhau
đá buồn chết theo sau
ngày vực sâu
rớt hoài xuống hư không
cuộc tình đau.”

(Anh Đến Thăm Em Đêm 30/ Vũ Thành An)

Khổ Đau Ca
Có thể nói rằng, nếu chúng ta đã từng khổ đau trong tình yêu thì khi nghe Khánh Hà hát, tự nhiên thôi, giọt nước mắt sẽ rơi. Nhưng tôi tin chắc là không ai có thể hát tình ca hay bằng Khánh Hà. Từng chữ, từng chữ một... chị nhả ra, như thể nghiến chặt từng nỗi đau, như thể bóp nát từng con tim...

“... Nhớ rất nhiều câu chuyện đó
Ngỡ như là vừa hôm qua
Tôi uớc ao có một ngày gặp lại em, hỏi chuyện em lần cuối cùng
Vẫn con đuờng, con đuờng cũ
Vẫn ngôi truờng, ngôi truờng xưa
Mưa vẫn bay như hôm nào
Nguời ở đâu mình ở đây bạc mái đầu
Này em hỡi con đuờng em đi đó, con đuờng em theo đó chắc qua bao lênh đênh
Bao gập ghềnh có làm héo hắt, có làm phai úa nét môi đẹp ngày nào?
Này em hỡi con đuờng em đi đó, con đuờng em theo đó đúng đấy em ơi
Nếu chúng mình đã thành đôi lứa, chắc gì ta đã, thoát ra đời khổ đau.
Nếu không còn gặp lại nữa, giữ cho trọn ân tình xưa
Tôi gửi em lời cầu nguyện, đuợc bình yên đuợc bình yên về cuối đời “

(Bài Không tên Cuối Cùng/Vũ Thành An)

Hạnh Phúc Ca
Nhưng rồi, tôi tin là sau những dòng nước mắt đó, thì một khoảng trời mênh mông sẽ được mở ra. Có lối thoát với nhiều con đường với nhiều sự chọn lựa. Cái khoản này thì không biết là chúng ta nên cám ơn các nhạc sĩ hay là cám ơn Khánh Hà?
Chỉ có Khánh Hà hát “Căn Nhà Xinh” thì mới có thể ru ta trong Hạnh Phúc, chỉ khi nghe Khánh Hà hát thì chúng ta mới cảm nhận được cái giá trị thật của hai chữ Hạnh Phúc. Và cũng chỉ có Khánh Hà hát thì chúng ta mới tin rằng Hạnh Phúc là điều có thật.

“Căn nhà xinh, ôi căn nhà xinh
Của tôi đây, với khung cửa ngút xanh
Cửa mở tung gió đón làn nắng mơ
Gặp gỡ sân hoa đầy bướm tơ
Ôi người yêu! Tôi mong người yêu
Ngồi bên tôi dưới căn nhà mút tươi
Cùng đùa chơi với lũ mèo vẫy đuôi
Hoặc với chó con nhẩy nhót vui


Ngày đêm tôi mong ước người ơi!
Gần bên tôi suốt một kiếp người
Ràng buộc mãi mãi vào duyên đôi
Ôi gần bên tôi, gần bên tôi
Phải gần bên tôi sống bên nhau suốt đời
Ta nằm đây, đôi ta nằm đây
Cùng nhau đắp chung mảnh chiếu hoa
Và ta nghe tiếng, tiếng trẻ hút vui
Giữa sân hoa hồng thắm tươi

Ngày đêm tôi mong ước người ơi!
Gần bên tôi sẽ mãi mãi suốt đời
Ràng buộc sớm tối vào duyên đôi
Phải gần bên tôi, về tới xa vời
Người ơi người, người ơi người
Gần nhau suốt đời, gần bên nhau mãi thôi!”

Căn Nhà Xinh / Phạm Duy

Tình Mẫu Tử
Có lẽ trong nỗi đau mất Mẹ, cho nên tiếng hát của Khánh Hà lại càng tha thiết hơn. Đồng ý là ai trong chúng ta cũng có một người mẹ để yêu, để kính. Nhưng khi nghe Khánh Hà nhả từng chữ “m...ẹ ơ...i!”, thì cũng giống như trong cơn tuyệt vọng của cuộc đời ta, chỉ có một người duy nhất dang rộng vòng tay đón đợi...

“...Dù ai xa vắng trên đường sớm chiều về đâu.
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu.
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mầu.
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu.”

Lòng Mẹ / Y Vân

Nhạc ngoại quốc
Đố ai biết được là ca sĩ Mỹ hay đang là Khánh Hà? Khi nghe Hà cất cao tiếng hát những ca khúc quốc tế bất hủ như All At Once, Memories, My Way, Only You, Romeo & Juliet….

Thánh Ca
Nhiều vô kể, làm sao nói hết khi mà một tài năng gói gọn trong một người phụ nữ mang một dáng dấp bé nhỏ. Nhưng cuối cùng thì không thể nào không nhắc nhở đến Thánh ca.
Cám ơn Khánh Hà! Vì dù là người ngoại đạo, nhưng nghe Khánh Hà hát thánh ca thì bỗng nhiên biết yêu Chúa, và nhất định thật sự cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng trong cõi yên bình.
Hãy dành trọn thời gian cho một bài Thánh ca này bạn nhé, rồi sẽ thấy trọn vẹn một đức tin nơi này.

“Tôi không còn cô đơn
Buồn khô héo bên dòng đời
Tôi không còn cô đơn
Mặc cho năm tháng trôi xuôi
Tôi không còn cô đơn
Dù rằng bờ vai vất vả
Thuyền lòng ngổn ngang mấy ngả
Lênh đênh tìm một mái nhà
Tôi đã gặp niềm vui

Từ khi lắng nghe lời nguyền
Tôi đã gặp niềm vui
Mừng lên trong đáy tim tôi
Tôi đã gặp niềm vui
Từ ngày tình yêu sáng tỏ
Mở rộng hồn tôi bé nhỏ
Dắt tôi đến miền tôi mơ
Chúa đã dạy tôi
Yêu Chúa, yêu người
Chúa đã dạy tôi
Yêu người như chính thân tôi
Tình yêu chân chính
Vì nghĩa quên mình
Còn gì cao quý bằng tình yêu biết hy sinh
Chúa đã dạy tôi
Nhân ái công bình
Manh áo hạt cơm, vui buồn chia sớt cho nhau
Nhìn nhau không nói mà ý khôn vơi
Lòng đau đừng cô đơn nữa người ơi.”


(Album Kính Dâng Ngài/Tôi Không Còn Cô Đơn/Vũ Thành An)

Cuối cùng,
cám ơn Khánh Hà.
Và duy nhất chỉ có một mình Khánh Hà mới có thể cho chúng ta:
Một cảm nhận của Khổ Đau.
Và nhiều cảm nhận của Hạnh Phúc…

ht, nguyễn

source

VienDongDaily

CON DIỀU


Nguyễn Hưng Quốc Blog

Chùm truyện cực ngắn của Nguyễn Viện

Nguyễn Viện
Hình: vietnamlit.org

Trong giới viết văn xuôi tại (...) hiện nay, Nguyễn Viện hầu như là nhà văn duy nhất dám đối diện với các vấn đề (...) nóng bỏng và nhức nhối nhất của đất nước. Ông đối diện với những vấn đề ấy – cũng có nghĩa là đối đầu với vô số những (...) chung quanh– chỉ với một vũ khí duy nhất: tiếng nói. Thừa can đảm, nhưng Nguyễn Viện cũng sáng suốt đủ để biết rõ tiếng nói của người cầm bút, cũng như của giới trí thức nói chung, không phải lúc nào cũng trong sáng và có sức mạnh như ý. Ở bên này, đã vậy. Ở bên kia, cũng vậy. Không có chút ảo tưởng.

Xin mời quý bạn đọc thưởng thức chùm truyện cực ngắn mới nhất mà nhà văn Nguyễn Viện muốn tặng, trước hết, cho độc giả trên blog của chúng ta.

À, mà bạn có muốn làm một con diều không nhỉ?

Riêng tôi, lúc nào tôi cũng ngưỡng mộ những người dám sống với trạng thái “chao đảo và chơi vơi”.

Đúng như Nguyễn Viện viết, để sống như thế, người ta cần phải tự tin ghê lắm.

NHQ

NGUYỄN VIỆN
TÔI Ở PHÍA BÊN KIA


Hắn nói: “Chúng tôi muốn ông đóng một vai trò tương xứng và hữu ích”. Tất nhiên, cả tôi và hắn đều hiểu giống nhau “tương xứng và hữu ích” là như thế nào. Thế là tôi trở thành kẻ được chọn.

Tôi không cần phải chuẩn bị gì. Người ta dẫn tôi ra trước đám đông và nói: “Đây là con của giao hòa”. Bổn phận của tôi là cười với tất cả mọi người. Và tôi đã nở một nụ cười thật tươi. Tôi cúi chào chung quanh. Không có tiếng vỗ tay. Hắn đứng sau lưng tôi bảo: “Ông cứ nói đi, tất cả mọi người đang lắng nghe ông”. Và tôi nói: “Chúng ta là một thực thể, chúng ta cũng là một thực tế, và chúng ta cũng sẽ là một khả thể”. Không có ai phản đối. Tôi nói tiếp: “Chúng ta ai cũng phải ăn, ai cũng biết nghĩ và tất nhiên suy nghĩ của chúng ta không giống nhau. Bởi thế tôi đã được sai đến. Tôi là giao hòa”. Vẫn im lặng. Hắn đứng sau lưng bảo: “Tốt lắm, tiếp đi”. Và tôi nói: “Ai cũng sẽ có chỗ của mình. Đàn ông và đàn bà, phụ lão và thiếu nhi, hãy rửa ruột để ơn phúc được chứa đựng”. Hắn đá vào chân tôi, nhắc: “Biện chứng duy vật”. Tôi hắng giọng: “Tôi nói các bạn có nghe rõ không”? Trong lúc các tiếng ồn từ từ dậy lên, tôi nghĩ: “Đây là vấn đề thể thức”. Và tôi quay lại, muốn nhìn vào mặt hắn, nhưng không còn thấy hắn đâu nữa.

TÔI Ở PHÍA BÊN NÀY

Hắn nhốt tôi vào trong một cái thùng, bảo: “Đấy, mày muốn nói gì thì nói”. Được nói thì dẫu nói trong một cái thùng thì cũng hơn không. Và tôi nói: “Đây là tiếng nói của một cái thùng. Không phải thùng rỗng, vì trong thùng có tôi. Mặc dù là cái thùng nhưng không thể kêu to. Hãy lắng nghe như nghe tiếng của loài muỗi”. Tiếng của tôi dội vào hai lỗ tai, lùng bùng. Tôi cố gắng nói tiếp: “Tôi nói các bạn có nghe rõ không”? Dường như không có bất kỳ ai đã nghe thấy. Tôi nghĩ: “Thế giới này không còn người”. Đáp lại ý nghĩ của tôi, tiếng muỗi vo ve như tiếng sáo diều. Tôi lại nghĩ: “Tại sao mình lại không mường tượng đó là tiếng sáo diều để được nhìn thấy trời cao rộng”. Tôi nghĩ tiếp: “Nhất định khi nào mình ra khỏi cái thùng này sẽ phải làm một con diều cho thỏa sự mơ mộng và thơ ngây”.

CON DIỀU

Ít nhất thì nó đã bay lên khỏi mặt đất gần 100 thước. Thật ra, tôi vẫn có thể leo lên một building ba bốn chục tầng nhấm nháp ly cà phê và nhìn xuống thế giới bên dưới. Nhưng ngồi trên một cánh diều thì cảm giác khác hẳn. Chao đảo và chơi vơi.

Cái cảm giác không có chỗ dựa và cũng không phải tự do thật khốn khổ. Làm thế nào duy trì được cảm thức bay bổng và trạng thái an toàn không phải là điều dễ dàng. Chỉ còn một sự trông cậy duy nhất, tin vào chính mình. Nhưng cỡi lên lưng cọp hay ngồi trên cánh diều thì cũng chẳng khác nhau mấy. Cuộc đời không còn tùy thuộc vào mình mà nó tùy thuộc vào sự run rủi. Dù sao tôi cũng phải dự trù tình huống diều đứt dây hay mất gió cắm chúi xuống đất. Trong trường hợp ấy, tôi nghĩ, một vài giây đủ để tôi vẽ một đường bay đến chân trời.

16.2.2010

************************

source

VOA Vietnamese

Wednesday, 24 February 2010

Bùi Giáng, Đi về với gió du côn


Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu



Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

(Chào nguyên xuân, Mưa Nguồn. BG)

Bước ai đi vào, hay bước chân rất nhẹ của Bùi Giáng. Và nói về anh nữa có là sai.

Họ Bùi tuổi Cọp hút heo, Vèo bay khói thuốc mốc meo linh hồn” (Chào mừng Sài gòn 1989. Thơ Bùi Giáng, trang 56, Việt Thường, Canada, xb1990). Như vậy anh sinh năm Dần, mất cũng năm Dần …(1)

Sách báo bài viết đã quá nhiều, cứ góp thêm từng kỷ niệm, nhớ anh những ngày xưa, cũ. Năm 1989, những ngày tôi bận rộn dọn dẹp xưởng vẽ trong con hẻm nhỏ đường Nguyễn đình Chiểu, Tân Định để cùng gia đình đi Mỹ, không biết linh tính thế nào, anh Bùi Giáng ngày nào cũng ghé chơi. Sáu giờ sáng đã đến kêu cửa. Đi xích lô từ Gia Định qua và kêu tôi ra trả tiền. Anh thường dậy và đi thật sớm. Bốn năm giờ sáng đi, cho đến chín mười giờ tối trở về căn chòi ở góc vườn nhà người cháu đường Lê quang Định, Gia Định. Một căn chòi khoảng hai thước vuông,vách ván, vá víu thêm những miếng các tông thùng. Bên trong chỉ cái giường gỗ duy nhất, quanh năm treo mùng, chiếc mùng trắng cũ ngã màu vàng ố. Quanh phòng đầy giấy vụn, áo quần, giày cũ đủ loại, mỗi thứ một chiếc khác nhau, anh đi lượm về. Một ngọn điện vàng, một cây đèn dầu, những chiếc bị lác xơ xác, cái mũ, chiếc nón lá rách và vài ba quyển sách cũ… Quyển Lễ Hội Tháng Ba là quyển anh giữ bên người lâu nhất, anh ghi đủ thứ, trên mỗi ngày rong chơi phố thị. Anh tặng tôi quyển sách ấy rồi sau đòi lại…

Bui Giang

Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, Sài Gòn).

Sau 1975, anh về nhà người cháu như kể trên. Đây là một xóm rộng, nhiều ngõ ngách, nhiều cây xanh im mát của vùng Gia Định. Xóm này là nơi anh đi về thân quen, đám trẻ nít hay chạy giỡn múa may theo anh. Trước khi về nhà, anh thường ghé quán tạp hoá đầu ngõ mua các thứ linh tinh hay uống ly rượu đế. Thích nhất là quán cô Thu ở gần nhà anh sâu trong ngõ, vì cô Thu hay bênh vực khi anh bị đám trẻ nít theo chọc phá. Bạn đến thăm là rủ đến đó uống bia hơi, bia lên men, rượu đế với vài gói đậu phụng, hút thuốc cho đến đoạn tàn – mẫu thuốc tàn vất xuống là anh lượm để dành. Anh thích vậy. Đi ăn hủ tiếu mì thì thích ngồi chồm hổm, ăn thịt trước rồi mới ăn xác, và húp cạn nước sau. Hỏi vì sao khi nào cũng lượm thịt ăn trước thì anh nói ăn cái ngon trước, lỡ nửa chừng chết sao …Chỗ anh hay ghé nhất là quán cà phê Huy Tưởng (2) ở ngã ba đường Trần quang Khải và Bà Lê Chân, cạnh chợ Tân Định, đứng múa may, chỉ đường ở đó. Làm gì quá lắm, chỉ có chị Bình (anh gọi là Thánh Nữ muôn vàn), vợ anh Huy Tưởng ra nói thì anh mới chịu nghe. Mỗi lần chở Honda cho anh đi là rất sợ, ngồi sau cứ múa may, đứng lên ngồi xuống rất nguy hiểm. Thường chở anh ghé nhà Hải Phương (3) và chị Quận đường Nguyễn thiện Thuật, Bàn Cờ, và nhà vợ chồng em trai Phạm công Thiện ở hẻm bên hông Đại học Vạn Hạnh. Có khi nhờ chở đi nhận tiền của bà con anh ở nước ngoài gởi về nơi nhà người quen. Thời còn thịnh hành truyện Kim Dung đăng hằng ngày trên các nhật báo Sài Gòn, Bùi Giáng đã đón đọc bằng tiếng Tàu những bài báo mới nhất từ Hồng Kông gởi qua. Đã dịch Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa Long Sinh, Võ Tánh xb 1967. Anh còn là dịch giả tài hoa nhất những tập truyện của Saint Exupery, Albert Camus, André Gide, Gerard de Nerval (Hoàng Tử Bé, Cõi Người Ta, Ngộ Nhận, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…). Năm 1972, Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh có ý kiến làm tập Dialogue, đối thoại với các nhà văn, nhà thơ, nhà tư tuởng ở các nước Tây Phương đang ảnh hưởng đến văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Thầy Nhất Hạnh nhờ Bùi Giáng viết lời mở đầu – avant-propos ­- phần bên trong gồm nhiều tác giả viết như Phạm công Thiện viết cho Henry Miller, Vũ hoàng Chương, Tam Ích, Hồ hữu Tường viết cho Jean-Paul Sartre, Simone Weil…Duy nhất có Bùi Giáng viết cho nhà thơ lớn của Pháp là René Char, được chính René Char hồi âm, kèm theo những tập thơ với lời đề tặng trang trọng và quý mến. Bùi Giáng viết rất mông lung mà đã đi vào trái tim của người thi sĩ muôn trùng cách biệt …Năm 1965 cháy nhà, bị mất biết bao sách quý, trong đó có sách của Albert Camus, René Char đề tặng Bùi Giáng, ít ai có được.

Bui Giang

Vui thôi mà, ba chữ mà chúng ta hay nói với nhau ngày nay…là từ Bùi Giáng đã nói với Mai Thảo (4) những năm bảy mươi khi ông [cùng với Nguyễn Xuân Hoàng] làm ở toà soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn, nhân Mai Thảo hỏi Bùi Giáng vì sao suốt ngày rong chơi mà viết và làm thơ nhiều đến vậy…Nhiều lần ghé toà soạn, Mai Thảo kể: “Một vài lần khác, chúng tôi đi ra ngoài một lát trở về, thấy ông nằm ngủ ngon lành trên hai cái bàn dài kê liền lại. Giấc ngủ dài, quên đời, quên hết, mặc hết, phải đánh thức dậy. Những lần đó, ông ngồi dậy im lặng, bất động, thì thầm câu Vui thôi mà, vui thôi mà, rồi lặng lẽ bỏ đi, cái bóng dáng gầy đỗ, gầy guộc trong chiều xuống.” (Văn, số 26.tháng 8.1984, California. Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng).

Về sách thì phải kể đến nhà xuất bản An Tiêm của Thầy Thanh Tuệ (5), cuối năm 1969 và những năm 1970 gần như là dành riêng in sách Bùi Giáng, bìa và nội dung được chăm sóc kỷ lưỡng. Nhà xuất bản An Tiêm ở đường Lý thái Tổ, Sài Gòn, cũng là nơi họp bạn bè văn nghệ, mỗi lần có sách mới in xong. Ở đó tôi đã gặp Bửu Ý, Nguyễn đức Sơn, Phạm công Thiện …và Bùi Giáng. Chúng tôi ngồi trên căn gác nhỏ thoáng mát ăn nhậu và các vị luôn cãi nhau đủ thứ chuyện …rồi lại ngồi im nghe những dĩa nhạc cổ điển cỡ lớn, là sưu tập riêng rất quý của Thanh Tuệ. Sau 75 phải đem bán chợ trời thật uổng. Nhân nhắc Bửu Ý, có thể nói là người cùng đi bộ với Bùi Giáng dài đường nhất, đi từ Sài Gòn vô Chợ Lớn thường xuyên. Những năm 60 Bửu Ý từ Huế vào làm báo Mai của Hoàng minh Tuynh, người đã cùng với Huỳnh văn Lang làm tờ Bách Khoa những năm khởi đầu.

Bùi Giáng đặc biệt mê tranh Chagall dù cuộc đời anh khốc liệt không kém Van Gogh, trong tập thơ Ngàn Thu Rớt Hột, Lá Cồn xuất bản năm 1963, có hai bài: Marc Chagall, Lý Bạch và Chagall. Bài Marc Chagall, năm 1973 in lại trong Bài Ca Quần Đảo, nhà xuất bản Nguyễn đình Vượng, anh đề tặng Nguyễn sỹ Tế (6). Đọc lại, thấy thơ anh đôi khi là một vẻ đẹp huyền bí, thơ mộng:

Buổi về đắm lụy điêu linh
Còn nguyên xứ sở mang hình chiêm bao
Máu se tàn lạnh điệu chào
Trên đầu phố lạ vẽ màu quê chung

(Marc Chagall, Ngàn Thu Rớt Hột, trang 39)

Anh thường la cà đến chỗ vẽ của Đỗ quang Em, khi nào cũng ghé tôi cùng đi. Lần Trịnh công Sơn, Đỗ quang Em và tôi bày tranh chung tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc, từ 14 đến 24 tháng giêng 1989 (trước 1975 là Alliance Francaise, đường Gia Long, Sài Gòn. Nơi này, Hội Họa Sĩ Trẻ chúng tôi thường mượn để họp và bày tranh. Nhớ nhất là Chú Tư, luôn cầm chiếc khăn trắng lau mấy chiếc ly thuỷ tinh ở quầy rượu). Buổi bế mạc phòng tranh anh ghé đến đòi uống whisky, say quá phải đưa anh về xưởng vẽ tôi nghỉ. Sẵn giấy màu anh cao hứng tự vẽ chân dung mình …thật đã.

Hai người bạn ở nước ngoài về rất mê anh là Ngô văn Quế (Ngô văn Tao) ở Canada, Nguyễn chí Trung ở Đức. Trong tập thơ Mây, xuất bản tại Montreal, Canada, 1988, Ngô văn Tao đã viết: “Nhưng một hai trăm năm nữa, thời đại của chúng ta có nhiều nước mắt, có nhiều chờ đợi, sẽ chỉ còn là một gợn sóng trong muôn ngàn gợn sóng của lịch sử. Khi những công trình zù bằng đá hoa sẽ đi vào hoang phế để lại mấy vụn xương khô, thì thơ văn của Bùi Giáng sẽ tồn tại trong sử sách” (Bùi Giáng thi nhân, trang 180). Nguyễn chí Trung làm hàng trăm bài thơ lục bát mang âm hưởng Bùi Giáng …

Bùi Giáng rất chí tình với bạn bè, ngày Thanh Tâm Tuyền (nhà thơ nổi tiếng trong nhóm Sáng Tạo, đã mất tại thành phố Saint Paul, Minnesota ngày 22.3.2006, thọ 70 tuổi) từ (...) về, một buổi sáng sớm, đã thấy Bùi Giáng đến thăm, mặc dầu anh ở trong ngõ khó tìm. Bùi Giáng có trí nhớ rất tốt, hang cùng ngõ hẻm nào anh cũng tìm ra.

Trong trại cải tạo Long Giao năm 1976, Thanh tâm Tuyền đã làm bài thơ Xuân đề tặng BG:

Vẫn thấy trong mơ đời trở giấc
Cỏ cây rù quyến gió hoang đàng

Trời xanh cao vút giếng nước ngọc
Đất hiền thở hương nắng thênh thang.

(Thanh tâm Tuyền, Thơ ở đâu xa, Trầm phục Khắc xuất bản, California, 1990)

Gió hoang đàng của Thanh Tâm Tuyền và Đi về với gió du côn của Bùi Giáng, theo tôi là hai ngọn gió chướng, mang ngôn ngữ ảo diệu, là hồn thơ mở phơi hào hứng một thời của Saint-John Perse, Yves Bonnefoy:

Đi về với gió du côn
Mở giông bão xuống cõi tồn sinh phai
Mép rìa vòm cỏ hương bay
Mở trang nhảy múa trên ngày phù du

(Đi Về VII, Thơ Bùi Giáng, Việt Thường xuất bản, Canada 1990)

Bui Giang

Bùi Giáng, anh đã nhảy múa trên tháng ngày phù du, cho đến khi ngã quỵ, hôn mê…từ giã cõi đời ngày 7 tháng 10 năm 1998. Anh đã: “…Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca, từ buổi sơ ngộ đầu đời cho đến những giây phút cuối cùng về với chốn lâm chung. Tận hiến mà không hề nhận lại một sự bù đắp nào đối đãi nào của nhân thế, trút gửi hết thảy xương máu và hồn phách, lưu lại ở đời như vay tạm một hình cốt mong manh bi thiết và mộng mị. Với riêng tôi, hình ảnh đắm chìm của tận hiến hung hiểm đó chính là một tượng đài vĩ đại đến khủng khiếp của Thiên tài thơ Bùi Giáng …”
(Lời đọc trước mộ của nhà thơ Huy Tưởng)

Hình ảnh Bùi Giáng có thể là một tượng đài vĩ đại, nhưng chỉ ước mong sao có một tượng chân dung nhỏ của anh trong một góc công viên, hay sân chùa nào đó ở Sài Gòn, Gia Định hay Đà Nẵng, để chúng ta không còn thấy anh “nhe răng cười trong bóng tối” và để đôi khi khách du lịch còn được giới thiệu: tượng chân dung một nhà thơ kỳ lạ nhất Việt Nam.

ĐINH CƯỜNG
Virginia
, 12.2009

(1) Tiểu Sử Bùi Giáng có thể xem bài:

- Đặng Tiến - Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng - có công phu xác minh rõ ràng nhất

- Bùi Giáng, Tiểu sử tự ghi (in lại trong Bùi Giáng trong cõi người ta, nhà xuất bản Lao Động. Trung Tâm Văn Hoá Ngôn Ngữ Đông Tây. Hà Nội 9.2008)

Các bài viết cuả những tác giả trong gia đình Bùi Giáng:

- Bùi công Luân: Chị và Anh.

- Bùi văn Vịnh: Về Bùi Giáng (bài nói tại Ngày Hội Thi Văn và Tư Tưởng Bùi Giáng -

California, 21.10.1995).

- Bùi văn Nam Sơn: Vài nét về Bùi Giáng.

(Chớp Biển .Thơ Bùi Giáng . Gia đình kỷ niệm 70 năm sinh, Sài Gòn - Anaheim - Koln -1996).

(2) Huy Tưởng, nhà thơ, hiện nay có quán ăn FaiFo, đường Huỳnh tịnh Của,Tân Định, Sài Gòn.

(3) Hải Phương, nhà thơ, San José – California.

(4) Mai Thảo, 1956 chủ trương biên tập tạp chí Sáng Tạo 1974, chủ trương tạp chí Văn. Mất ngày 10.1.1988, California.

(5) Thanh Tuệ, cùng gia đình sống tại Pháp, mất năm 2006, California.

(6) Nguyễn sỹ Tế, nhà giáo, viết khảo luận văn chương …mất năm 2005, California.

source

VOA Vietnamese