Showing posts with label hội họa. Show all posts
Showing posts with label hội họa. Show all posts

Friday, 28 October 2011

Triển lãm của người Tây Tạng lưu vong


Triển lãm của người Tây Tạng lưu vong

Cập nhật: 15:08 GMT - thứ sáu, 28 tháng 10, 2011

Người Tây Tạng lưu vong quỳ trên đất mang tới từ Tây Tạng

Nhiều người Tây Tạng lưu vong đã quỳ xuống cầu nguyện trên khu đất được chở từ quê hương họ tới.

Một triển lãm nghệ thuật tại thị trấn Dharamsala của Ấn cho phép nhiều người Tây Tạng lưu vong cơ hội lần đầu tiên được đặt chân lên đất quê hương mình.

Nghệ sĩ người Tây tạng, Tenzin Rigdol, đã chở 20,000kg đất từ Tây Tạng tới Dharamsala, nơi đức Dalai Lạt Ma đang cư ngụ và cũng là trụ sở của chính phủ lưu vong Tây Tạng, để dàn dựng triển lãm nghệ thuật của mình.

Khoảng 6.000 người Tây Tạng đã tới thăm triển lãm, được khai mạc hôm thứ Tư.

Đối với nhiều người, cơ hội được đặt chân trên chính đất từ Tây Tạng là một điều thực sự cảm động.

Triển lãm mang tên "Tổ quốc của chúng ta, nhân dân của chúng ta".

"Bước trên đất chính thực từ Tây Tạng, tôi cảm thấy như mình đang được trở về quê hương sau 51 năm. Tôi sinh ra tại Tây Tạng. Kể từ khi tôi bỏ chạy vào năm 1959, tôi không có cơ hội trở về," ông Phuntsog Namgyal, 57 tuổi, nói.

"Tôi cảm thấy trong trái tim mình như thể đang trở lại Tây Tạng", ông nói.

'Cảm giác may mắn'

Một số người Tây Tạng đã quỳ xuống cầu nguyện trên khu đất đó. Những người khác thử nếm miếng đất để được kết nối với quê hương mình.

"Tôi sinh ra ở Ấn Độ vì thế đây là lần đầu tiên tôi bước trên miếng đất Tây Tạng. Tôi cảm thấy mình thật may mắn và tôi tin chắc rằng rồi một ngày tôi sẽ trở về Tây Tạng. Triển lãm mang lại cho tôi niềm hy vọng," Tsering Dolma, 29 tuổi, nói.

Nghệ sĩ Tenzin Rigdol cho biết ông có được cảm hứng làm triển lãm này sau khi cha ông qua đời khi sống lưu vong và không thực hiện được ước nguyện cuối cùng của mình là trở về quê hương.

Một khay đất được mang tới cho đức Dalai Lạt Ma, người đã viết dòng chữ Tây Tạng bằng tiếng Tây Tạng lên đó.

"Thật vô cùng phấn khích khi thấy Đức Dalai Lạt Ma khắc họa thông điệp đơn giản và mạnh mẽ nhất lên mặt đất, khẳng định nó là Tây Tạng, mảnh đất yêu quý của Ngài và của chúng tôi," ông Rigdol nói.

Nghệ sĩ này đã từ chối không cho biết chính xác đất đã được lấy từ đâu tại Tây Tạng và làm cách nào để đưa tới Ấn Độ vì những quan ngại về an ninh. Tuy nhiên ông cho biết ông đã quay phim quá trình này và sẽ cho công bố vào một thời điểm sau này.

Ông Rigdol đã mời những người Tây Tạng sống tại Dharamsala tới giúp ông gỡ bỏ triển lãm bằng cách mang những túi đất về nhà mình.

source

BBC Vietnamese

Thursday, 13 May 2010

Hình ảnh Mẹ trong hội họa



Saturday, May 08, 2010







Cũng như trong thơ văn, “Mẹ” là một đề tài lớn trong nghệ thuật hội họa. Từ Ðông sang Tây, từ xưa đến nay, có rất nhiều bức tranh thể hiện hình ảnh người mẹ. Ở đây chúng tôi chỉ xin trích đăng bốn tác phẩm diễn tả tình mẫu tử chọn của các họa sĩ Lê Phổ, Mary Cassatt, Picasso và Renoir, có lẽ là những tên tuổi tương đối được biết đến nhiều nhất trong hội họa Việt Nam, Hoa Kỳ và thế giới, và đặc biệt là có vẽ nhiều tranh về đề tài này.




Họa sĩ Lê Phổ thuộc thế hệ thứ nhất của Trường Cao Ðẳng Mỹ Thuật Ðông Dương. Sau 5 năm học mỹ thuật ở Hà Nội, ông sang Paris học thêm hai năm rồi trở về nước làm giáo sư trong một thời gia ngắn. Từ cuối thập niên 1930, ông sang Pháp và sống ở đó luôn. Ông mất tại Paris năm 2001, sau khi đã tặng dữ 20 bức tranh cho Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam. Ông cũng có tác phẩm trong bộ sưu tập thường trực của Museum d'Art Moderne, Paris. Tuy chịu ảnh hưởng nhiều trường phái Paris, đặc biệt là Bonnard và Redon, tranh Lê Phổ vẫn giữ được màu sắc và tình tự Việt Nam rất đậm nét.





Ðược biết nhiều nhất như là một họa sĩ “lập thể”, nhưng thật ra lập thể chỉ là một giai đoạn trong sự nghiệp rất phong phú đa dạng của ông. Picasso có vẽ nhiều bức tranh về mẹ con, có bức màu sắc trong dáng và đường nét dịu dàng, có bức với phong cách rất mạnh bạo, mà bức in trên đây là một.





Có một khoảng thời gian vào cuối thế kỷ 19, Mary Cassatt gần như là chỉ chuyên chú vào đề tài “Mẹ Con”. Hồi nhỏ, Mary Cassatt đã sống ở Pháp, sau khi học mỹ thuật ở Philadelphia, bà lại trở sang Pháp và dự phần vào các sinh hoạt của trường phái ấn tượng của Pháp.





Renoir được yêu thích nhất qua cách diễn đạt hình ảnh người phụ nữ và trẻ con. Bức tranh trên đây vẽ cậu con trai của chính họa sĩ tên Jean, với người vú nuôi là một người bà con trong gia đình, tên Gabrielle Renard. Cậu bé Jean sau này là nhà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Jean Renoir.

source

NGUOI-VIET Online

Wednesday, 24 February 2010

Bùi Giáng, Đi về với gió du côn


Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu



Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

(Chào nguyên xuân, Mưa Nguồn. BG)

Bước ai đi vào, hay bước chân rất nhẹ của Bùi Giáng. Và nói về anh nữa có là sai.

Họ Bùi tuổi Cọp hút heo, Vèo bay khói thuốc mốc meo linh hồn” (Chào mừng Sài gòn 1989. Thơ Bùi Giáng, trang 56, Việt Thường, Canada, xb1990). Như vậy anh sinh năm Dần, mất cũng năm Dần …(1)

Sách báo bài viết đã quá nhiều, cứ góp thêm từng kỷ niệm, nhớ anh những ngày xưa, cũ. Năm 1989, những ngày tôi bận rộn dọn dẹp xưởng vẽ trong con hẻm nhỏ đường Nguyễn đình Chiểu, Tân Định để cùng gia đình đi Mỹ, không biết linh tính thế nào, anh Bùi Giáng ngày nào cũng ghé chơi. Sáu giờ sáng đã đến kêu cửa. Đi xích lô từ Gia Định qua và kêu tôi ra trả tiền. Anh thường dậy và đi thật sớm. Bốn năm giờ sáng đi, cho đến chín mười giờ tối trở về căn chòi ở góc vườn nhà người cháu đường Lê quang Định, Gia Định. Một căn chòi khoảng hai thước vuông,vách ván, vá víu thêm những miếng các tông thùng. Bên trong chỉ cái giường gỗ duy nhất, quanh năm treo mùng, chiếc mùng trắng cũ ngã màu vàng ố. Quanh phòng đầy giấy vụn, áo quần, giày cũ đủ loại, mỗi thứ một chiếc khác nhau, anh đi lượm về. Một ngọn điện vàng, một cây đèn dầu, những chiếc bị lác xơ xác, cái mũ, chiếc nón lá rách và vài ba quyển sách cũ… Quyển Lễ Hội Tháng Ba là quyển anh giữ bên người lâu nhất, anh ghi đủ thứ, trên mỗi ngày rong chơi phố thị. Anh tặng tôi quyển sách ấy rồi sau đòi lại…

Bui Giang

Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, Sài Gòn).

Sau 1975, anh về nhà người cháu như kể trên. Đây là một xóm rộng, nhiều ngõ ngách, nhiều cây xanh im mát của vùng Gia Định. Xóm này là nơi anh đi về thân quen, đám trẻ nít hay chạy giỡn múa may theo anh. Trước khi về nhà, anh thường ghé quán tạp hoá đầu ngõ mua các thứ linh tinh hay uống ly rượu đế. Thích nhất là quán cô Thu ở gần nhà anh sâu trong ngõ, vì cô Thu hay bênh vực khi anh bị đám trẻ nít theo chọc phá. Bạn đến thăm là rủ đến đó uống bia hơi, bia lên men, rượu đế với vài gói đậu phụng, hút thuốc cho đến đoạn tàn – mẫu thuốc tàn vất xuống là anh lượm để dành. Anh thích vậy. Đi ăn hủ tiếu mì thì thích ngồi chồm hổm, ăn thịt trước rồi mới ăn xác, và húp cạn nước sau. Hỏi vì sao khi nào cũng lượm thịt ăn trước thì anh nói ăn cái ngon trước, lỡ nửa chừng chết sao …Chỗ anh hay ghé nhất là quán cà phê Huy Tưởng (2) ở ngã ba đường Trần quang Khải và Bà Lê Chân, cạnh chợ Tân Định, đứng múa may, chỉ đường ở đó. Làm gì quá lắm, chỉ có chị Bình (anh gọi là Thánh Nữ muôn vàn), vợ anh Huy Tưởng ra nói thì anh mới chịu nghe. Mỗi lần chở Honda cho anh đi là rất sợ, ngồi sau cứ múa may, đứng lên ngồi xuống rất nguy hiểm. Thường chở anh ghé nhà Hải Phương (3) và chị Quận đường Nguyễn thiện Thuật, Bàn Cờ, và nhà vợ chồng em trai Phạm công Thiện ở hẻm bên hông Đại học Vạn Hạnh. Có khi nhờ chở đi nhận tiền của bà con anh ở nước ngoài gởi về nơi nhà người quen. Thời còn thịnh hành truyện Kim Dung đăng hằng ngày trên các nhật báo Sài Gòn, Bùi Giáng đã đón đọc bằng tiếng Tàu những bài báo mới nhất từ Hồng Kông gởi qua. Đã dịch Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa Long Sinh, Võ Tánh xb 1967. Anh còn là dịch giả tài hoa nhất những tập truyện của Saint Exupery, Albert Camus, André Gide, Gerard de Nerval (Hoàng Tử Bé, Cõi Người Ta, Ngộ Nhận, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…). Năm 1972, Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh có ý kiến làm tập Dialogue, đối thoại với các nhà văn, nhà thơ, nhà tư tuởng ở các nước Tây Phương đang ảnh hưởng đến văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Thầy Nhất Hạnh nhờ Bùi Giáng viết lời mở đầu – avant-propos ­- phần bên trong gồm nhiều tác giả viết như Phạm công Thiện viết cho Henry Miller, Vũ hoàng Chương, Tam Ích, Hồ hữu Tường viết cho Jean-Paul Sartre, Simone Weil…Duy nhất có Bùi Giáng viết cho nhà thơ lớn của Pháp là René Char, được chính René Char hồi âm, kèm theo những tập thơ với lời đề tặng trang trọng và quý mến. Bùi Giáng viết rất mông lung mà đã đi vào trái tim của người thi sĩ muôn trùng cách biệt …Năm 1965 cháy nhà, bị mất biết bao sách quý, trong đó có sách của Albert Camus, René Char đề tặng Bùi Giáng, ít ai có được.

Bui Giang

Vui thôi mà, ba chữ mà chúng ta hay nói với nhau ngày nay…là từ Bùi Giáng đã nói với Mai Thảo (4) những năm bảy mươi khi ông [cùng với Nguyễn Xuân Hoàng] làm ở toà soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn, nhân Mai Thảo hỏi Bùi Giáng vì sao suốt ngày rong chơi mà viết và làm thơ nhiều đến vậy…Nhiều lần ghé toà soạn, Mai Thảo kể: “Một vài lần khác, chúng tôi đi ra ngoài một lát trở về, thấy ông nằm ngủ ngon lành trên hai cái bàn dài kê liền lại. Giấc ngủ dài, quên đời, quên hết, mặc hết, phải đánh thức dậy. Những lần đó, ông ngồi dậy im lặng, bất động, thì thầm câu Vui thôi mà, vui thôi mà, rồi lặng lẽ bỏ đi, cái bóng dáng gầy đỗ, gầy guộc trong chiều xuống.” (Văn, số 26.tháng 8.1984, California. Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng).

Về sách thì phải kể đến nhà xuất bản An Tiêm của Thầy Thanh Tuệ (5), cuối năm 1969 và những năm 1970 gần như là dành riêng in sách Bùi Giáng, bìa và nội dung được chăm sóc kỷ lưỡng. Nhà xuất bản An Tiêm ở đường Lý thái Tổ, Sài Gòn, cũng là nơi họp bạn bè văn nghệ, mỗi lần có sách mới in xong. Ở đó tôi đã gặp Bửu Ý, Nguyễn đức Sơn, Phạm công Thiện …và Bùi Giáng. Chúng tôi ngồi trên căn gác nhỏ thoáng mát ăn nhậu và các vị luôn cãi nhau đủ thứ chuyện …rồi lại ngồi im nghe những dĩa nhạc cổ điển cỡ lớn, là sưu tập riêng rất quý của Thanh Tuệ. Sau 75 phải đem bán chợ trời thật uổng. Nhân nhắc Bửu Ý, có thể nói là người cùng đi bộ với Bùi Giáng dài đường nhất, đi từ Sài Gòn vô Chợ Lớn thường xuyên. Những năm 60 Bửu Ý từ Huế vào làm báo Mai của Hoàng minh Tuynh, người đã cùng với Huỳnh văn Lang làm tờ Bách Khoa những năm khởi đầu.

Bùi Giáng đặc biệt mê tranh Chagall dù cuộc đời anh khốc liệt không kém Van Gogh, trong tập thơ Ngàn Thu Rớt Hột, Lá Cồn xuất bản năm 1963, có hai bài: Marc Chagall, Lý Bạch và Chagall. Bài Marc Chagall, năm 1973 in lại trong Bài Ca Quần Đảo, nhà xuất bản Nguyễn đình Vượng, anh đề tặng Nguyễn sỹ Tế (6). Đọc lại, thấy thơ anh đôi khi là một vẻ đẹp huyền bí, thơ mộng:

Buổi về đắm lụy điêu linh
Còn nguyên xứ sở mang hình chiêm bao
Máu se tàn lạnh điệu chào
Trên đầu phố lạ vẽ màu quê chung

(Marc Chagall, Ngàn Thu Rớt Hột, trang 39)

Anh thường la cà đến chỗ vẽ của Đỗ quang Em, khi nào cũng ghé tôi cùng đi. Lần Trịnh công Sơn, Đỗ quang Em và tôi bày tranh chung tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc, từ 14 đến 24 tháng giêng 1989 (trước 1975 là Alliance Francaise, đường Gia Long, Sài Gòn. Nơi này, Hội Họa Sĩ Trẻ chúng tôi thường mượn để họp và bày tranh. Nhớ nhất là Chú Tư, luôn cầm chiếc khăn trắng lau mấy chiếc ly thuỷ tinh ở quầy rượu). Buổi bế mạc phòng tranh anh ghé đến đòi uống whisky, say quá phải đưa anh về xưởng vẽ tôi nghỉ. Sẵn giấy màu anh cao hứng tự vẽ chân dung mình …thật đã.

Hai người bạn ở nước ngoài về rất mê anh là Ngô văn Quế (Ngô văn Tao) ở Canada, Nguyễn chí Trung ở Đức. Trong tập thơ Mây, xuất bản tại Montreal, Canada, 1988, Ngô văn Tao đã viết: “Nhưng một hai trăm năm nữa, thời đại của chúng ta có nhiều nước mắt, có nhiều chờ đợi, sẽ chỉ còn là một gợn sóng trong muôn ngàn gợn sóng của lịch sử. Khi những công trình zù bằng đá hoa sẽ đi vào hoang phế để lại mấy vụn xương khô, thì thơ văn của Bùi Giáng sẽ tồn tại trong sử sách” (Bùi Giáng thi nhân, trang 180). Nguyễn chí Trung làm hàng trăm bài thơ lục bát mang âm hưởng Bùi Giáng …

Bùi Giáng rất chí tình với bạn bè, ngày Thanh Tâm Tuyền (nhà thơ nổi tiếng trong nhóm Sáng Tạo, đã mất tại thành phố Saint Paul, Minnesota ngày 22.3.2006, thọ 70 tuổi) từ (...) về, một buổi sáng sớm, đã thấy Bùi Giáng đến thăm, mặc dầu anh ở trong ngõ khó tìm. Bùi Giáng có trí nhớ rất tốt, hang cùng ngõ hẻm nào anh cũng tìm ra.

Trong trại cải tạo Long Giao năm 1976, Thanh tâm Tuyền đã làm bài thơ Xuân đề tặng BG:

Vẫn thấy trong mơ đời trở giấc
Cỏ cây rù quyến gió hoang đàng

Trời xanh cao vút giếng nước ngọc
Đất hiền thở hương nắng thênh thang.

(Thanh tâm Tuyền, Thơ ở đâu xa, Trầm phục Khắc xuất bản, California, 1990)

Gió hoang đàng của Thanh Tâm Tuyền và Đi về với gió du côn của Bùi Giáng, theo tôi là hai ngọn gió chướng, mang ngôn ngữ ảo diệu, là hồn thơ mở phơi hào hứng một thời của Saint-John Perse, Yves Bonnefoy:

Đi về với gió du côn
Mở giông bão xuống cõi tồn sinh phai
Mép rìa vòm cỏ hương bay
Mở trang nhảy múa trên ngày phù du

(Đi Về VII, Thơ Bùi Giáng, Việt Thường xuất bản, Canada 1990)

Bui Giang

Bùi Giáng, anh đã nhảy múa trên tháng ngày phù du, cho đến khi ngã quỵ, hôn mê…từ giã cõi đời ngày 7 tháng 10 năm 1998. Anh đã: “…Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca, từ buổi sơ ngộ đầu đời cho đến những giây phút cuối cùng về với chốn lâm chung. Tận hiến mà không hề nhận lại một sự bù đắp nào đối đãi nào của nhân thế, trút gửi hết thảy xương máu và hồn phách, lưu lại ở đời như vay tạm một hình cốt mong manh bi thiết và mộng mị. Với riêng tôi, hình ảnh đắm chìm của tận hiến hung hiểm đó chính là một tượng đài vĩ đại đến khủng khiếp của Thiên tài thơ Bùi Giáng …”
(Lời đọc trước mộ của nhà thơ Huy Tưởng)

Hình ảnh Bùi Giáng có thể là một tượng đài vĩ đại, nhưng chỉ ước mong sao có một tượng chân dung nhỏ của anh trong một góc công viên, hay sân chùa nào đó ở Sài Gòn, Gia Định hay Đà Nẵng, để chúng ta không còn thấy anh “nhe răng cười trong bóng tối” và để đôi khi khách du lịch còn được giới thiệu: tượng chân dung một nhà thơ kỳ lạ nhất Việt Nam.

ĐINH CƯỜNG
Virginia
, 12.2009

(1) Tiểu Sử Bùi Giáng có thể xem bài:

- Đặng Tiến - Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng - có công phu xác minh rõ ràng nhất

- Bùi Giáng, Tiểu sử tự ghi (in lại trong Bùi Giáng trong cõi người ta, nhà xuất bản Lao Động. Trung Tâm Văn Hoá Ngôn Ngữ Đông Tây. Hà Nội 9.2008)

Các bài viết cuả những tác giả trong gia đình Bùi Giáng:

- Bùi công Luân: Chị và Anh.

- Bùi văn Vịnh: Về Bùi Giáng (bài nói tại Ngày Hội Thi Văn và Tư Tưởng Bùi Giáng -

California, 21.10.1995).

- Bùi văn Nam Sơn: Vài nét về Bùi Giáng.

(Chớp Biển .Thơ Bùi Giáng . Gia đình kỷ niệm 70 năm sinh, Sài Gòn - Anaheim - Koln -1996).

(2) Huy Tưởng, nhà thơ, hiện nay có quán ăn FaiFo, đường Huỳnh tịnh Của,Tân Định, Sài Gòn.

(3) Hải Phương, nhà thơ, San José – California.

(4) Mai Thảo, 1956 chủ trương biên tập tạp chí Sáng Tạo 1974, chủ trương tạp chí Văn. Mất ngày 10.1.1988, California.

(5) Thanh Tuệ, cùng gia đình sống tại Pháp, mất năm 2006, California.

(6) Nguyễn sỹ Tế, nhà giáo, viết khảo luận văn chương …mất năm 2005, California.

source

VOA Vietnamese

Tuesday, 22 December 2009

Đêm đông ấm cho trẻ không nhà nhân mùa Giáng Sinh


- Một triển lãm tổng hợp tranh, ảnh đã được tổ chức tại nhà thờ Ba Chuông, TP.HCM nhân mùa Giáng sinh để bán gây quỹ từ thiện giúp trẻ em nghèo ăn Tết.

Đêm đông 1 - họa sĩ Lê Hiếu

Triển lãm gồm 149 tác phẩm của 50 họa sĩ, nhà điêu khắc và 9 nhiếp ảnh gia có chủ đề Đêm đông không nhà. Một nửa doanh thu từ việc bán tác phẩm sẽ được dùng làm quỹ từ thiện lì xì cho trẻ em nghèo, cơ nhỡ vào đêm giao thừa Tết Canh Dần 2010.

Linh mục Vũ Đức Trung, người điều hành Trung tâm Mục vụ Đa Minh - Ba Chuông cho biết các nghệ sĩ tham gia đã vui vẻ điều chỉnh giá nhằm giúp việc bán tranh, ảnh được thuận lợi hơn và hiện đã có nhiều nhà sưu tập tranh ảnh và mạnh thường quân đặt mua.

2.jpg
Các tác phẩm Tuổi thơ, Sau cơn bão và Hồn nhiên của nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong

Năm bức ảnh của nhiếp ảnh gia Hoàng Quốc Tuấn, người vừa được phong tước hiệu M.FIAP - nghệ sĩ bậc thầy của Liên đoàn nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế, đã bán hết ngay trong ngày đầu tiên. Ba tác phẩm của nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh trẻ em, Trần Thế Phong, cũng đã được mua.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Thập giá tôi - Nguyễn Anh Khoa, Đêm đông - Minh Hưng
Đợi xuân - Nguyễn Chí Tình
Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Jesus - Thanh Phương, Đêm đông 2 - Lê Hiếu

Nhiếp ảnh gia xuất thân từ trẻ đường phố Trần Thế Phong cho biết: "Tôi đã tham gia nhiều triển lãm ảnh nhưng đây là lần đầu tiên tôi được đồng nghiệp mời đến với một triển lãm tổng hợp các loại hình và giảm giá tác phẩm để làm từ thiện. Hy vọng tác phẩm của tôi có thể góp được một chút lửa để trẻ em nghèo được ấm trong những ngày Tết".

Triển lãm Đêm đông không nhà kéo dài đến hết ngày 28/12/2009 tại Trung tâm Mục vụ Đa Minh - Ba Chuông, 190 Lê Văn Sĩ, TP.HCM.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Hoài cổ - Tạ Văn Mãnh, Hội lân - Phó Bá Cường
Hương vị ngày xuân - Tạ Văn Mãnh
  • Lê Tám

  • source
  • Đêm đông ấm cho trẻ không nhà nhân mùa Giáng Sinh

    Cập nhật lúc 12:10, Thứ Tư, 23/12/2009 (GMT+7)
  • http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/200912/Dem-dong-am-cho-tre-khong-nha-nhan-mua-Giang-Sinh-885785/

Wednesday, 11 November 2009

Nhà sưu tập tranh... hai mặt


Cập nhật lúc 10:51:37 AM - 10/10/2008

fbi-picasso-tetedefemme-w.jpgTrong bài báo ngày 11.8.08, với nhan đề “Stolen Art Uncovered,” tờ New York Times giở lại hồ sơ về cái chết - ông qua đời vì đột quỵ tim - của một nhân vật kỳ bí ở New York, người nổi tiếng về trí nhớ, nhà khảo cứu thần đồng, người lúc nào cũng có một bức màn bí mật thân thế bao phủ, và chủ nhân một bộ sưu tập hơn 300 tác phẩm nghệ thuật...

[Bức “Cái đầu của người đàn bà” của Pablo Picasso, nguồn: FBI]


Nội dung bản tin có những chi tiết đáng chú ý như sau: Vào năm 2006, nhà chức trách tìm thấy một bộ sưu tập nghệ thuật, về số lượng lẫn giá trị nghệ thuật tương đương với một bảo tàng viện cỡ trung bình, trong một căn apartment ở New York City.

Nhưng trong bộ sưu tập nghệ thuật đó - bao gồm tác phẩm hội họa, điêu khắc, bản vẽ phác thảo - của những nghệ sĩ bậc thầy như Picasso, John Singleton Copley, Alberto Giacometti, Giorgio Morandi và Eugene Boudin, có một số - bị khám phá ra sau ngày chết của chủ nhân - là đồ ăn trộm. Chủ nhân bộ sưu tập này là một tên tuổi rất quen thuộc, nếu không muốn nói là nổi danh, tại New York City, tên là William M.V. Kingsland, qua đời tháng 4, 2006 ở tuổi 62.

Lúc bộ sưu tập được tìm thấy, không ai nghĩ đó là đồ ăn trộm. Ông Kingsland không để lại di chúc cũng như không có ai nhận là thân nhân họ hàng hưởng gia tài nên thành phố New York đã mướn hai nhà đấu giá Christie's và Stair Galleries bán bộ sưu tập này. Nhưng sau đó, nhà Chrisitie's khám phá ra là một số tác phẩm đã bị đánh cắp từ thập niên 1960 và 1970. Nhà Stair Galleries đã bán được vài tác phẩm và một trong những người mua, một nhà sưu tập tranh, khám phá ra họ đã mua đồ ăn cắp. Cả hai nhà đấu giá đều báo cáo sự việc cho ông Jim Wynne, một nhân viên đặc biệt trong đơn vị chống ăn cắp nghệ thuật “Art Crime Team” của FBI.

Công việc của FBI là tìm ra người chủ hợp pháp của những tác phẩm bị đánh cắp để trả lại. Hai phần ba bộ sưu tập đã có người đến nhận, chỉ còn khoảng trên 100 tác phẩm vẫn còn chờ châu về hợp phố, được chụp hình đưa lên các “website” của FBI hay của một số tờ báo để may ra có chủ nhân nào xuất hiện trình giấy tờ tài liệu chứng minh lãnh về.

fbi-langley-rivercows-w.jpgNgười hai mặt

Nhân vật trọng tâm và kỳ thú nhất trong vụ này không ai khác hơn là William M.V. Kingsland, được một bài báo của tờ New York Time số ra ngày 13.4.2006 cho biết lai lịch và đời sống của ông như một bộ tiểu thuyết đầy tính chất kỳ bí và thần thoại. Bài này viết vào thời điểm chưa ai biết sự thật về bộ sưu tập, nên mang nội dung ca ngợi con người và cuộc đời của Kingsland như là một dân New York ngoại hạng.

[Bức “Đàn bò bên dòng sông” của William Langley, nguồn: FBI]

Thiên hạ mệnh danh cho ông là một bộ tự điển địa lý biết đi. Bài báo của ký giả Gary Shapiro viết mô tả Kingsland là một nhà khảo cứu thần đồng và là một nhà gia phả học kỳ tài. Một người bạn nối khố là Eliot Rowlands cho hay, Kingsland là một bộ sách lịch sử biết đi của khu thượng lưu phía đông New York Thượng.

Kingsland là một người rất bí mật. Ông có nhiều bạn thân nhưng rất ít người có cơ hội được vào căn chung cư của ông. Nói chuyện với bạn bè, ông thường đánh trống lảng mỗi khi bị hỏi về thân thế, lai lịch hay về gia đình. Lúc sanh tiền, Kingsland là một tay thổ địa New York City. Một thành viên của Ủy ban bảo tồn di tích lịch sử “Landmarks Committee of Community Board 8” gọi Kingsland là một cuốn tự điển địa lý biết đi. Không địa chỉ nào mà Kingsland không biết. Ông biết người nào đã từng sống ở đó, chuyện gì đã xảy ra. Tội ác, ngoại tình, gái bỏ nhà theo trai, Kingsland biết hết.

Với nụ cười mỉm bí hiểm, ông Kingsland là một nhân vật nổi bật trong thế giới những người bảo tồn lịch sử, những nhà trưng bày tranh, và những nhà bán đấu giá tại New York. Mùa đông, ông đội mũ beret, đeo khăn quàng. Mùa hè, ông đội mũ lưỡi trai nhựa làm ông nhìn giống như đầu con cá mập. Khoác cái áo phủ ngoài áo sơ mi trắng Oxford, Kingsland có một lối ăn mặc tự nhiên thoải mái.

Kingsland là người chiến đấu cho lối sống cũ không mệt mỏi. Theo tác giả Barnaby Conrad III, Kingsland như khó chịu vì thế kỷ 20 đã xảy ra. Một người trong giới đấu giá, lần đầu tiên gặp Kingsland vào thập niên 1970, cho hay, Kingsland có kiến thức gợi lên “bóng dáng một thế giới khác.”

Kingsland được ủy ban di tích lịch sử Landmarks Committee of Community Board 8 mướn làm ủy viên công vụ. Trong những phiên họp, Kingsland ngồi bắt chân chữ ngũ, ngả người ra sau và chỉ nghe. Những khi phát biểu, ông ta nói rất ít nhưng chắc như đinh đóng cột.

Tại một phiên họp của UB Landmarks, người ta đưa ra một tấm hình chụp một căn nhà chỉ còn vỏn vẹn cái cửa ra vào, theo lời một thành viên nhớ lại, thế mà Kingsland nói vanh vách cái địa chỉ đó là gì. Ông biết giá những căn nhà townhouse, bề ngoài những tòa nhà, kiểu tân trang do kỹ sư nào vẽ, thậm chí cả lịch sử thay đổi các cửa sổ tòa nhà ông cũng biết. Ông thu thập những vi phạm di tích lịch sử rồi báo cáo cho ủy ban.

Thành tích sáng chói của Kingsland là những chi tiết tuy vụn vặt nhưng chính xác về đời sống trong các tòa nhà Upper East Side qua nhiều thế hệ, được kể theo lối mô tả các nhân vật tiểu thuyết của Henry James hay Edith Wharton.

Ông Kingsland dùng cái tài mọn nhưng độc đáo đó để giúp cho các tổ chức. Trí nhớ tuyệt luân của Kingsland đã giúp rất nhiều cho việc gây quĩ bảo tồn Park Avenue. Chả là vì ông biết hết những người sẵn sàng bỏ tiền ra làm đẹp Park Avenue. Ông Kingsland biết tổ tiên của những người này, từng là cự phú trong ngành bia hay thép hay đã từng là người hùn hạp trong công ty dầu hỏa Oil Standard làm mưa làm gió một thời. Ông lôi những hậu duệ còn sống đó ra xin mở rộng hầu bao đóng góp làm đẹp Park Avenue. Không người nào lắc đầu nổi, chỉ vì danh giá dòng họ.

fbi-forain-lapianiste-w.jpgÔng Kingsland giúp ủy ban phục hồi Thánh đường Ba Ngôi Church of Holy Trinity tại phố East 88th Street bằng cách đi tìm các hậu duệ dòng họ Rhinelander. Ông cũng là tình nguyện viên cho văn phòng New York của học viện American Academy tại Rome.

[Bức “Nữ dương cầm thủ” của Jean Louis Forain, nguồn: FBI]

Với nghĩa trang New York Marble Cemetery, không ai có thể chối cãi công lao đóng góp to lớn của Kingsland khi ông thiết lập một bảng phả hệ giữa người trong trong mồ nổi với những hậu duệ còn sống. Một ủy viên ban quản trị nghĩa địa, bà Anne Brown, đã thiết lập gia phả cho nghĩa trang trong thế kỷ 19, rồi trao phần còn lại cho ông Kingsland làm nốt. Ông thiết lập gia phả những ngôi mộ có niên đại từ 1905 đến 1910. Ông vùi đầu trong thư viện New York Society Library và ghi kết quả lên hàng trăm tờ giấy vàng chi chít chữ. Rồi ông gửi những gia phả đầy đủ chi tiết này cho bà Brown. Sau này bà Brown kinh ngạc khi biết ông Kingsland đã phỏng vấn hàng ngàn người còn sống, chỉ ghi chép một bản rồi gửi hết cho bà, không giữ một bản sao nào cho mình. Nhưng đến khi thảo luận với bà, ông vẫn nhớ vanh vách. Khâm phục thiên tài trí nhớ của Kingsland, bà Brown dám tuyên bố rằng: “Nếu có hết tất cả tiền trên thế giới này, chúng tôi cũng không thể nào mướn một người làm được cái việc mà ông ấy đã làm.”

Kingsland có thể chặn bạn bè đang đi ngoài hè phố và nói chuyện suốt ngày không hết chuyện. Kingsland có thú vui đích thân đem thư đến tận địa chỉ người nhận, không cần bưu điện. Là người có máu căn cơ, ông dùng lại các phong bì. Bạn thân thường nhận được những phong bì không có thư, nhưng có những mẩu báo cắt ra cho thấy ông đang nghĩ đến họ. Chẳng hạn, Kingsland gửi cho một người bạn đang sống tại Anh quốc một mẩu tin cắt ra từ tờ báo về cái chết của một phụ nữ tên Mrs. Going. Ông dí dỏm viết thêm: “Going, going, gone.” (Bà Going, đang đi (going), đã đi mất rồi)

Còn rất nhiều chuyện về nhân vật kỳ tài Kingsland vừa lập dị vừa thú vị. Ông cho biết cái tên lót viết tắt M.V. có nghĩa là Milliken Vanderbilt, khoe đã lập gia đình một lần, rằng cha mẹ ông sống tại Florida. Hiện không biết có thân nhân nào còn sống không. Một hậu duệ trực tiếp của ngài Ambrose Cornelius Kingsland, một thị trưởng New York hồi thế kỷ 19, là ông James Kingsland, cho hay, ông không tin William Kingsland có liên hệ gia phả họ hàng gì với ông.

Ông James Kingsland nói đúng. Sau khi ông William Kingsland chết lâu rồi, giới truyền thông mới khám phá ra ngay cái tên Kingsland cũng không phải là tên thật. Ông ta tên thật là Melvyn Kohn, những năm đầu đời cư ngụ ở Bronx, trước khi xin phép đổi tên thành Kingsland, vì ông ta cho cái tên này nghe văn chương hơn, giúp ông ta tiến thân trong xã hội thượng lưu ở Manhattan. Và ông đã suy nghĩ đúng khi đổi ra tên này.

Ông Kingsland để lại một ấn tượng tốt đẹp là lúc nào cũng tỏ ra nhiệt tình với bạn bè và những người được ông tình nguyện giúp việc.

Ở căn chung cư của Kingsland, bạn bè nhớ lại từ sàn nhà lên tới trần, ông Kingsland treo những tác phẩm mỹ thuật la liệt, có khi chồng lên nhau, mục đích không phải là trưng bày mà để không bị hư hỏng. Những kệ sách tranh chỗ của những tấm thảm cuốn, những món đồ lạ mắt, những đồ đồng và những bản thảo trong các hộp.

Không ai ngờ một người lắm tài và dễ thương như thế lại là một tên trộm nghệ thuật thành New York City.

fbi-traub-tablewall-w.jpgNghệ thuật đang chờ “châu về hợp phố”

Tháng 8, 2008, tờ New York Times loan tin rằng, hai năm sau cái chết của nhân vật kỳ tài lẫn kỳ bí William M.V. Kingsland, FBI vẫn còn đi tìm các chủ nhân hợp pháp những tác phẩm trong bộ sưu tập mỹ thuật trị giá bạc triệu. Xin nhắc lại, ông Kingsland không để lại di chúc và căn chung cư biến thành kho chất đầy những tác phẩm nghệ thuật, trong đó có một bức tượng bán thân của Giacometti được đánh giá từ $900,000 đến $1.2 triệu. Một bức họa nhỏ của Giorgio Morandi sau này bán được $600,000. Cả hai tác phẩm này được xác nhận bị mất cắp.

[Bức “Cái bàn và bức tường” của William Traub, nguồn: FBI]

Một số trong bộ sưu tập của ông Kingsland có vẻ như là của chính ông theo cái nghĩa pháp lý. Nhưng cơ quan điều tra liên bang FBI, sau khi lọc lựa phân loại kho tàng nghệ thuật có giá này, đã khám phá ra trong số hơn 300 tác phẩm tìm thấy trong căn chung cư của ông có những bức tranh ăn cắp là của Picasso, Copley, Fairfield Porter và Odilon Redon, những món khác có giá trị thương mại nhất thì cũng khó mà xác minh là của ông ta.

Có những chủ nhân là bảo tàng viện hay phòng trưng bày tranh, bị Kingsland ăn cắp, nay đã đóng cửa. Cho đến nay, còn 105 tác phẩm vẫn chưa biết sở hữu chủ thật là ai và hiện nằm trong tay nhà đấu giá Christie's giữ giùm. Giá trị của những tác phẩm này đang được nói đến là $2.4 triệu.

Nhà chức trách New York cho hay, nếu không có ai xuất hiện nhận chủ quyền những tác phẩm còn lại, họ sẽ tổ chức bán đấu giá tất cả. Tiền thu được sẽ sung vào quĩ tài sản Kingsland. Đến nay, tưởng ông ta không còn ai là thân nhân, đã có 4 người bà con và một người chú xuất hiện tự nhận là người thừa hưởng gia tài của ông Kingsland.

Chúng ta lại phải chờ xem màn cuối của câu chuyện về một nhân vật sống hai bộ mặt kỳ tài và kỳ bí với bộ sưu tập ăn cắp vô tiền khoáng hậu sẽ kết thúc ra sao trước khi đi vào lịch sử thành phố New York City?

Có thể gọi ông Kingsland là con người hai mặt mà thế giới muôn màu muôn vẻ thành New York City sản sinh ra.

****************

source

Vien Dong Daily News



Triển lãm hội hoạ “Những Điều Kỳ Diệu Nhỏ Bé”



Cập nhật lúc 1:41:46 PM - 16/01/2009

smallwonders-tranhnhac.jpg*Tác phẩm của Đinh Cường, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Nguyên Khai, và Nguyễn Việt Hùng

*Giới thiệu buổi “Nhạc Chiều Cuối Năm” trong khung cảnh tranh đẹp


Triển lãm Hội Họa

Vào những ngày từ 22 đến 25 tháng Giêng năm 2009, nhóm họa sĩ quen thuộc với cộng đồng Little Saigon gồm Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Nguyên Khai, và Nguyễn Việt Hùng, cùng họa sĩ Đinh Cường từ miền Đông Hoa Kỳ sẽ tổ chức một cuộc triển lãm tranh mừng Xuân hằng năm tại phòng sinh hoạt nhật báo Viễn Đông. Chủ đề năm nay đặt trọng tâm vào các tác phẩm có kích thước cỡ trung bình và cỡ nhỏ, và vì thế được đặt tên là “Small Wonders”, có thể hiểu như những điều kỳ diệu nhỏ bé. Những sáng tác có kích thước khiêm tốn sẽ đem lại nhiều điều lý thú cho khách thưởng ngoạn và tình cảm, tài năng đặc biệt của mỗi họa sĩ vẫn có thể nhận thấy được qua những sáng tác của họ.

Địa điểm: Phòng SH báo Viễn Đông, 14891 Moran St., Westminster, CA 92683

Thời gian: 22-25 tháng Giêng, 2009, từ 10 giờ sáng tới 6 giờ chiều

Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy 24 tháng Giêng, 2009, từ 2 giờ chiều

Buổi “Nhạc Chiều Cuối Năm”

Đặc biệt, một buổi nhạc có tên “Nhạc Chiều Cuối Năm” sẽ được tổ chức vào lúc 8 giờ tối thứ Bảy 24 tháng 1, 2009 tức ngày 29 Tết với sự góp mặt của Bích Liên, Phạm Hà, Vương Lan, Như An, nhóm ca Sóng Xanh, Đan Tâm, Thế Hậu, nhóm ca Gió Núi, Kim Anh, Kim Liên, ban Thiếu Nhi Ngàn Khơi, danh cầm Đỗ Đình Phương và dương cầm thủ Phương Lan. Vào cửa tự do.

Nhạc hay và tranh đẹp đi đôi với nhau để nâng cao tâm hồn người thưởng ngoạn.

Chân dung hội họa

Dưới đây là chân dung hội họa từng họa sĩ của buổi triển lãm:

Đinh Cường với tác phẩm “Đêm Thắp Nhang Ngoài Trời Mù Sương”, tranh sơn dầu, 24 x 30 inches, 2008.

1-Dinh-Cuong.jpg

Bố cục là một người thắp nhang đứng giữa khung trời xám vào cảnh đêm trăng tròn. Người đứng thẳng, không hẳn vào trung tâm của bức tranh, trong bầu không gian màu xám ngả xanh rất trầm mặc, kết hợp với những nét cạo sơn vừa vô tư như trẻ thơ, vừa điêu luyện của bậc thầy hội hoạ, những bệt màu xám trắng diễn tả khuôn mặt và đôi bàn tay chắp lại, giữ một thanh nhang đang cháy đỏ. Dáng người cao thanh và sắc độ không ồn ào của màu xám, có điều gì làm liên tưởng đến cách tạo hình của điêu khắc gia họa sĩ Giacometti.

Những đường nét cạo sơn, một lối nghệ thuật hoang dã “primitive” mà họa sĩ Dubuffet khởi xướng, và được các danh họa đương thời Cy Twombly và Antoni Taipes thăng hoa. Hội hoạ Đinh Cường đạt đến cao điểm về kỹ thuật và tư duy của nền hội hoạ Hiện Đại (Modern Art, vào đầu thế kỷ 20). Tác phẩm này đủ sức mạnh để thuyết phục được những khách xem tranh lão luyện. Đây là tác phẩm kết hợp tuyệt vời giữa tư tưởng Á Đông và kỹ thuật Tây phương. Một sáng tác có được tiêu chuẩn viện bảo tàng.

Nguyễn Đồng với tác phẩm “Ánh Lửa Trong Nhà”, tranh màu nước, 15 x 11 inches.

2-Nguyen-Dong.jpg

Tranh Nguyễn Đồng thường mang đến cho người xem một hoài niệm miền quê Việt Nam, nhất là miền Tây Nam bộ. Căn nhà lợp tranh ở vị thế giữa họa phẩm, với rừng dừa cao bao bọc sau nhà và bụi dừa nước thấp chặn đằng trước. Căn nhà ấm lên ngọn lửa khi hoàng hôn chậm đến. Những màu sắc bồi đắp lên nhau tạo hiệu quả sâu lắng và ấm áp của một buổi chiều. Khung cảnh rất thật và quen thuộc, nhưng thực tế thì khó mà tìm được khi thời gian đã xóa dần đi những vùng thôn quê dân dã. Có thể họa sĩ Nguyễn Đồng vẽ những gì rất thực, rất bình thường, và sẽ trở thành những gì thật cao xa, mất hút. Đó là loạt tranh về cảnh miền quê, hầu như không có hình ảnh con người, cho dù họa phẩm mang dấu vết dân gian như nhà tranh, cầu ván, ao cá…

Hình như họa sĩ Nguyễn Đồng yêu thích sự riêng tư cá nhân hơn là nhóm hội đông người. Hội hoạ Nguyễn Đồng mang âm hưởng của hội hoạ Paul Klee về màu sắc đầm thắm, tình cảm cô đọng, và nét tạo hình đơn giản.

Nguyễn Thị Hợp, “Mùa Xuân”, tranh màu nước, 12 x 12 inches, 2008.

3-Nguyen-Thi-Hop.jpg

Họa sĩ Nguyễn Thị Hợp có nét vẽ nhẹ nhàng thanh thản trên tranh lụa, nhiều vùng nhạt trắng tạo khoảng không gian thoáng, nói lên nét tao nhã của hội họa Á đông. Bức tranh diễn tả thiếu nữ đang nằm, nhìn ngắm hoa Mai, hoa Đào trong bối cảnh không gian Việt Nam. Thiếu nữ vô tư để hở một bên ngực, ve vẩy tay quạt trong buổi trưa tươi mát mùa Xuân. Cho dù cách chọn lựa đề tài, nhân vật, sự sắp xếp cảnh trí của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp đều liên hệ đến Việt Nam nhưng tính hiện đại của nền hội hoạ Tây phương đã có dấu ấn nơi chị.

Hình như họa sĩ Henry Matisse với các tác phẩm “Thiếu Nữ Khỏa Thân” đã ngấm ngầm, tự nhiên và vô thức đi vào một số tranh của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp. Đôi mắt đen đầy và cánh tay của thiếu nữ vắt ngang lên đầu từ các tác phẩm của họa sĩ Matisse, là nguồn cảm hứng cho nhiều họa sĩ Việt Nam, điển hình là tác phẩm “Thiếu Nữ bên Hoa Huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân, và không ít những họa phẩm “Thiếu Nữ” của những họa sĩ thuộc nhóm Hội Họa Sĩ Trẻ thành phố Sài Gòn năm nào đều có bố cục tương tự (Ngay cả họa sĩ Picasso cũng chịu ảnh hưởng từ dáng điệu thiếu nữ của họa sĩ Matisse qua tác phẩm “Nude in a Red Armchair - Khỏa thân trên Ghế Bành Đỏ”). Chính nét ẩn của chất hội hoạ Hiện Đại trong tranh họa sĩ Nguyễn Thị Hợp đã tạo nên sự yêu mến tranh chị từ giới sưu tập và thưởng lãm nền hội họa Việt Nam.

Nguyên Khai, “Ngựa”, tranh sơn dầu, 30 x 40 inches.

4-NguyenKhai.jpg

Ngựa là một trong những đề tài họa sĩ Nguyên Khai thường vẽ. Đối với người Việt, Ngựa không là thú vật thân quen, nhưng không ít họa sĩ Việt Nam vẽ hoặc tạo hình về đề tài này. Bởi thế đừng nghĩ họa sĩ Nguyên Khai có sự liên hệ mật thiết với giống thú này. Thật ra Ngựa mang nhiều đặc tính của sự lãng mạng, nhiều chất thi ca trong nền văn hóa Đông phương. Đàn ngựa phi tung vó, quây quần đùm bọc bên nhau, nhưng vẫn phóng khoáng tự do. Bức tranh Ngựa của Nguyên Khai gồm tám con, có lẽ là con số hên theo truyền thống Trung Hoa.

Họa sĩ Nguyên Khai không đặt nặng tư tưởng vào trong các tác phẩm của mình, điều họa sĩ thật sự bận tâm là bố cục và màu sắc. Những con ngựa trắng, màu trắng phủ lên các màu có trước tạo nên sắc độ ẩn hiện. Màu trắng là màu thành công của họa sĩ Nguyên Khai. Nguyên Khai là một trong những họa sĩ trụ cột của Hội Hoạ Sĩ Trẻ vào thập niên 1960 –1970, là nhóm họa sĩ mang nhiều ảnh hưởng của nền hội hoạ Hiện Đại Âu châu đầu thế kỷ 20, điển hình qua các danh họa Chagall, Paul Klee, Picasso,….

Nguyễn Việt Hùng, “Chân Dung Đá”, sơn acrylic trên đá, kích thước so sánh với đồng xu penny, 2008.

5-Nguyen-Viet-Hung.jpg

Họa sĩ Nguyễn Việt Hùng dựa vào những hình dạng có sẵn trên viên đá ở vùng biển gần nhà mà sáng tác theo ý tưởng của mình. Từ những lỗ hổng đây đó trên viên đá, đưa đến những đề nghị về hình thể khuôn mặt, hoặc vài bộ phận trên thân thể. Thiên nhiên là đấng sáng tạo vĩ đại, không có hai viên đá hoàn toàn giống nhau, và họa sĩ đã nương theo nguyên lý này để sáng tạo những tác phẩm độc nhất. Mỗi chân dung đá là một tác phẩm duy nhất trên thế gian này.

“Chân Dung Đá” của họa sĩ Nguyễn Việt Hùng một phần chịu ảnh hưởng từ cách tạo hình của họa sĩ Picasso; những biến dạng hình thể đến tính chất dục cảm rất thô bạo. Hội hoạ Nguyễn Việt Hùng kết hợp nhiều tính chất của các hình thái nghệ thuật tạo hình, từ nghệ thuật truyền thống cổ xưa, đến cách tạo hình của hội hoạ Hậu Ấn Tượng (Cezanne, Van Gogh), hội hoạ Hiện Đại (Picasso, Dubuffet, Miro’), và hội hoạ Đương đại (Diebenkorn, Lucian Freud, David Hockney).

Trên đây là đôi lời giới thiệu đến bạn đọc, hy vọng khách yêu thích nghệ thuật sẽ viếng thăm phòng tranh của 5 họa sĩ Đinh Cường, Nguyễn Đồng, Nguyễn Thị Hợp, Nguyên Khai, và Nguyễn Việt Hùng. Với những sắc thái rất đặc biệt của từng họa sĩ, những ai có lòng say mê hội hoạ, đều tìm được những cảm xúc thật sự qua cuộc triển lãm nầy.


*************************

source

Vien Dong Daily News

Đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp - Nguyễn Đồng: “Công việc vẽ vời đưa chúng tôi lại gần nhau”



Cập nhật lúc 2:30:41 PM - 25/12/2008

Phụng Linh

Phải mất một thời gian chờ đợi khá lâu, chúng tôi mới gặp được đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Đồng và Nguyễn Thị Hợp. Họ đang tất bật chuẩn bị tham dự một cuộc triển lãm khoảng đầu năm 2009 tới.


Ông bà còn tiết lộ, đang dốc thời gian làm việc cho cuộc triển lãm trù tính trong một tương lai gần kỷ niệm 40 năm ngày cưới của đôi vợ chồng họa sĩ tài danh. Bà Nguyễn Thị Hợp cho biết, tại cuộc triển lãm ở Houston sắp tới sẽ trưng bày khoảng 20 tấm tranh mang chủ đề thuộc về đề tài ưa thích lâu nay của bà: phụ nữ Việt Nam, mẹ con, các em thiếu nhi... Đó là thế mạnh của cây cọ nữ Nguyễn Thị Hợp. Còn họa sĩ Nguyễn Đồng, phu quân của bà, thì khá nổi tiếng tại Sài Gòn, nơi tranh của ông thường xuyên xuất hiện trong các cuộc triển lãm của nhóm họa sĩ, chung với Nguyễn Trung…

Hop-Dong-tai-xuong-ve-rieng.jpg

[Đôi vợ chồng họa sĩ Nguyễn Thị Hợp và Nguyễn Đồng tại xưởng vẽ]

Viễn Đông: Thưa, ông bà có nhớ tổng số bức tranh đã hoàn thành trong thời gian qua?

Nguyễn Thị Hợp: Không nhớ hết nổi. Các cuộc triển lãm chung hầu như năm nào cũng có, với một nhóm từ 3 – 4 tới 10 người. Sau này chúng tôi thỉnh thoảng triển lãm tranh riêng của 2 người, tính ra khoảng 4-5 lần. Sau năm 1975, hầu như mỗi năm đều có triển lãm chung tại Âu châu. Ở tại đây, chúng tôi từng triển lãm tranh nhân kỷ niệm 30 năm ngày cưới tại trụ sở báo Viễn Đông bây giờ, cách nay 10 năm. Đáng lẽ năm nay chúng tôi triển lãm nhân kỷ niệm 40 năm nhưng chưa làm kịp, còn trong vòng dự tính. Cái chính là mình làm việc, chứ con số thì vẫn là con số thôi. Cuộc triển lãm gần đây nhất tổ chức tại Phân khoa Mỹ thuật đại học Minnesota. Tổng số tranh vẽ của hai chúng tôi hiện tại không biết bao nhiêu vì chưa làm thống kê nên không biết, nhưng so với các họa sĩ phương Tây thì không nhiều lắm đâu, mặc dù chúng tôi làm việc liên tục. Chúng tôi có điều giống nhau là vẽ chậm lắm. Vì không ưng ý, thường phải sửa hoài.

Viễn Đông: Cùng làm việc chung trong một môi trường nghệ thuật, cùng là họa sĩ, ông bà có giúp đỡ nhau trong việc sáng tác hay không?

Nguyễn Đồng: Chúng tôi làm việc riêng, giữ sự độc lập cần thiết của mỗi người, nhưng sau khi vẽ xong rồi thì người này góp ý cho người kia, phê bình lẫn nhau. Chúng tôi chuộng sự thẳng thắn đóng góp cho nhau để mỗi người khá hơn.

Viễn Đông: Thưa bà, điều thú vị ở chỗ ông là thầy giáo, đã tốt nghiệp trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn rồi ra dạy nhưng lại thích vẽ nhiều hơn và bước vào nghề sớm hơn bà, trong khi bà đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật năm 1964. Nghe nói ông bà quen nhau trong một cuộc triển lãm hội họa ở Sài Gòn. Có phải tình yêu nghệ thuật hội họa đã khiến ông bà gắn bó với nhau?

Nguyễn Thị Hợp: Lập gia đình cùng chung sống với nhau, tôi mới biết mình vẽ ít hơn anh. Anh khuyến khích mình trở lại vẽ, thay vì chỉ minh họa sách.

Viễn Đông: Bà đang dốc lòng cho cuộc triển lãm kỷ niệm 40 năm ngày cưới của hai ông bà?

Nguyễn Thị Hợp: Chúng tôi sẽ “trình làng” ít nhất 15 tấm mỗi người, tổng cộng cả hai có khoảng 30 tấm.

Viễn Đông: Công việc có bận rộn lắm không, thưa bà vì hiện nay bà còn đang là họa sĩ trình bày cho một nhật báo ở Nam California?

Nguyễn Thị Hợp: Thời giờ làm việc ở sở cộng với thời gian sáng tác hội họa quá nhiều, đôi khi cũng khiến tôi quên mất… gia đình. Đó là thiếu sót không thể phủ nhận. Nhưng nay thì tôi dành thời giờ cho gia đình nhiều hơn. Trước nay mỗi lần đi làm về rồi hùng hục vẽ, nhà cửa bề bộn. Tôi đang vẽ một bức chân dung theo yêu cầu của khách hàng và anh giúp tôi rất nhiều để hoàn thành bức tranh đặc biệt này.

Viễn Đông: Thưa ông, chúng tôi thấy có những bức vẽ ghi tên hai họa sĩ, công trình chung của hai người. Liệu rằng vẽ chung có làm mất đi tính cách riêng vốn có của mỗi họa sĩ hay không?

Nguyễn Đồng: Hồi còn độc thân, tôi có một cuộc triển lãm lần đầu tiên ở Sài Gòn, còn Hợp triển lãm đầu tiên ở Đài Loan. Năm 1968, chúng tôi làm lễ thành hôn. Thời gian độc thân thì không ai biết ai. Mãi cho đến khi cưới nhau rồi sang Đức, chúng tôi có toàn thời gian để vẽ, nên có cơ hội tham dự nhiều cuộc triển lãm ở Paris. Bức tranh của riêng từng người vẽ thì rất khác nhau. Với tác phẩm có tính chất nửa trang trí thì chúng tôi vẽ chung, thí dụ như loại tranh minh họa, ký tên Nguyễn Thị Hợp – Nguyễn Đồng. Những bức tranh chung đó có một phong thái lạ không riêng người nào. Lần triển lãm rồi ở Irvine College, chúng tôi triển lãm 3 phần, 2 phần riêng và 1 phần chung. Đó là loại tranh minh họa theo mẫu có sẵn, chúng tôi chỉ dựa theo đó mà phóng lớn. Tranh cọ để sẵn trong xưởng vẽ, ai rảnh thì cầm cọ lên…

Viễn Đông: Sở trường của hai ông bà có điểm nào trùng hợp không, thưa bà?

Nguyễn Thị Hợp: Anh thường vẽ toàn thể, cảnh vật, cảnh trí chung quanh vì anh chuyên về hoa lá, phong cảnh. Côn tôi chuyên vẽ người nhiều hơn cho nên chúng tôi hỗ trợ lẫn nhau rất nhịp nhàng, ăn ý. Đối với loại tranh mà một nửa mang tính cách trang trí thì có thể cùng lúc 4 – 5 người có thể cùng làm dựa vào một bản phác thảo đã đồng ý. Chúng tôi từng có những tác phẩm vẽ chung như thế.

Viễn Đông: Thưa ông, nhìn lại quãng thời gian hoạt động cho nghệ thuật hội họa đã qua, ông có hài lòng với công việc đã làm?

Nguyễn Đồng: Khó trả lời được rằng hài lòng hay không hài lòng. Tôi nghĩ, không ai có thể trở lại con đường đã qua. Nhưng có thể nói rằng khó có ai hài lòng với những gì mình đã làm. Cũng như người viết văn, nếu bạn đọc cho viết lại tác phẩm của mình thì họ có thể sửa hoài.

Viễn Đông: Bà có kinh nghiệm nào trong thời gian qua?

Nguyễn Thị Hợp: Tôi thích xem tranh của người khác để học hỏi và rút tỉa kinh nghiệm cho riêng mình. Hiện nay tôi có thời gian 1 năm ngưng làm việc ở tòa soạn để được yên ổn, dành toàn thời gian cho việc sáng tác, rất thú vị vì không phải sa vào thời gian vẽ một cách vội vã, hấp tấp.

Nguyen-Thi-Hop--Mua-Xuan-Tr.jpg

[Tác phẩm “Mùa Xuân” (tranh màu nước) của họa sĩ Nguyễn Thị Hợp]

Viễn Đông: Tình hình suy thoái của nền kinh tế thị trường liệu có tác động đến đời sống vật chất cũng như hoạt động sáng tác của người họa sĩ không, thưa ông bà?

Nguyễn Thị Hợp: Tình hình kinh tế khó khăn cũng tác động một phần. Nhưng sự khó khăn đó chỉ có vẻ khởi đầu thôi, chưa biết sau này ra sao. Trước đây tôi từng chứng kiến một đợt suy thoái trầm trọng, ngân hàng xiết nhà cắm bảng đỏ đầy đường. Lúc mới từ Đức sang đây khoảng năm 1987, chúng tôi cũng vất vả lắm. Ở nhà nhờ, đi xe nhờ, đến nỗi con gái chúng tôi luôn miệng hỏi “hôm nay mình sẽ đi xe của ai, ở nhà ai?” Có lẽ hồi đó còn khó khăn hơn bây giờ, đối với riêng chúng tôi.

Viễn Đông: Ông bà có cách tìm cảm hứng cho mình?

Nguyễn Đồng: Chúng tôi thích đi đó đi đây, nhìn ngắm vạn vật thiên nhiên. Năm nào cũng đi, chúng tôi mới vừa đi Nhật về. Đi chơi là đi thôi chứ không nghĩ đến vẽ. Nhưng vì mình là người thích nghệ thuật, chuộng sự thưởng thức nghệ thuật nên rất siêng đi bảo tàng viện, đi xem các cuộc triển lãm lớn, nghe hòa nhạc… Đó là những nơi gây cảm hứng, nhất là khi đi nghe nhạc. Còn xem triển lãm thì chúng tôi học hỏi rất nhiều. Nghệ thuật cần coi trọng cái mới, những hình thức mới nhất của nghệ thuật, có điều là mình không bắt chước. Cái mới từ trong lòng mình ra thì là mới, còn từ những gì mình nhìn thấy thì đã cũ rồi.

Viễn Đông: Qua cách nói, chúng tôi đoán hình như ông hỗ trợ cho bà trong nghề nghiệp nhiều hơn, phải không thưa ông?

Nguyễn Đồng: Không biết được, mạnh ai nấy làm và chỉ giúp nhau thôi. Nếu không có người này hì người kia cũng làm, vì công việc từ trong lòng mình ra. Nhưng tôi nghĩ hai vợ chồng cùng ngành cũng có lợi vì có thể hỏi ý kiến của nhau, nếu không thì không biết hỏi ai.

Viễn Đông: Có khi nào ý kiến của người này làm người kia thay đổi hẳn một sáng tác?

Nguyễn Đồng: Thỉnh thoảng cũng có xóa đi làm lại. Nhưng có điều chắc chắn là ai cũng có cái nhìn và quan điểm riêng của mình, và ý kiến của người khác sẽ giúp mình làm việc chín chắn hơn.

Viễn Đông: Thưa bà, các gia đình Việt Nam trong nước vẫn còn nặng tinh thần phong kiến, chẳng hạn như là vợ phải làm việc nhà nhiều hơn, lo cho gia đình nhiều hơn so với ông chồng. Còn với bà thì sao?

Nguyễn Thị Hợp: Chúng tôi chia nhau việc nhà mà làm, giống hai người bạn thân, chia nhau công việc. Anh và gia đình anh là những người có tư tưởng rất mới, đặc biệt là cha mẹ chồng của mình. Mình là người may mắn nhất trong gia đình vì quen anh và được lấy anh từ nơi làm việc.

Viễn Đông: Có nghĩa ông là người do bà chọn lựa, chứ không phải là người chồng do bố mẹ chọn rồi “bắt ép duyên”, thưa bà?

Nguyễn Thị Hợp: Tôi may mắn được như thế, nhưng cũng có phần nhờ thời thế đổi thay. Hơn nữa gia đình của anh sống trong Nam và gia đình tôi từ khi di tản vào miền Nam chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp, đã thay đổi suy nghĩ rất nhiều.

Viễn Đông: Bà có kinh nghiệm gì giữ gìn hạnh phúc gia đình?

Nguyễn Thị Hợp: Nhờ trời, với lại tùy theo số phận.

Viễn Đông: Còn ông thì sao?

Nguyễn Đồng: Công việc vẽ vời đưa chúng tôi lại với nhau. Tôi nghĩ cuộc sống gia đình nếu có giận hờn, sóng gió thì cũng là chuyện thường của những người yêu nhau. Nếu tranh toàn màu đen sẽ không giúp cho con người biết màu trắng, nếu cuộc đời chỉ vui thôi thì lại không thấy vui hơn sau nhưng lần có chuyện buồn giận. Chắc ông trời sinh ra như vậy, có nghèo giàu, có khác biệt… Vấn đề là mình hiểu sự khác nhau là một cái gì hết sức tự nhiên để không đi đến đổ vỡ.

Viễn Đông: Ông nghĩ gì về sự độc lập sáng tạo của một nghệ sĩ hội họa? Hiện nay người họa sĩ có thể sống được bằng nghề vẽ của mình không?

Nguyễn Đồng: Tôi không muốn lệ thuộc vào việc vẽ thương mại, nên phải làm một nghề để sống, để được vẽ theo ý thích của mình mặc dù những sáng tác đó chưa chắc được người ta hưởng ứng, mua tranh… Vì thế cho nên tôi không ngạc nhiên khi biết các bậc nghệ sĩ Tây phương đều có một nghề riêng để sống và để viết theo ý muốn của họ. Phải có cách nào để sống để được ngồi viết theo ý của mình.

Viễn Đông: Xin cám ơn ông bà và kính chúc ông bà hạnh phúc, trẻ trung trong dịp Giáng Sinh và Năm Mới, và cho ra đời nhiều bức tranh được công chúng yêu thích.

source

Vien Dong Daily News

10 câu hỏi cho họa sĩ Hà Cẩm Tâm "Cám ơn hoa đã vì ta nở"


April 03, 2009


Nguyễn Thạch

Hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm sinh năm 1933, tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn. Trước năm 1975, tranh ông từng được triển lãm tại Hội Việt-Mỹ Sài Gòn, Trung tâm Văn hoá Pháp, Pháp Văn Đồng Minh Hội, U.S.I.S. Hall, Saigon, Trung tâm Văn hoá Đức, Thư viện Sài Gòn. Tranh ông cũng từng tham dự các cuộc triển lãm quốc tế tại Hoa Kỳ, Pháp, Ý, Nhật, Úc, Brazil, Algeria… Tại Hoa Kỳ tranh ông từng được triển lãm từ năm 1978 đến nay tạiPennsylvania, Washington, Washington D.C., Oregon, California, Hawaii và Utah. Những bài viết và phỏng vấn hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm từng xuất hiện trên tạp chí Văn [hải ngoại], New York Times, Journal d’Extreme-Orient, Washington Post, San Jose Mercury News, Lần triển lãm này của hoạ sĩ Hà CẩmTâm gồm 35 bức mới nhất tại Hội trường Đời Mới 345 E. Santa Clara st. # 2nd Floor, San Jose, CA 95113 từ 3 giờ chiều Chủ Nhật 5 tháng Tư, 2009 và kéo dài đến 30 tháng Tư, 2009. Mỗi ngày từ 9:00 AM đến 7:00PM.

Tác phẩm “Gió Xuân” của họa sĩ Hà Cẩm Tâm


1 – Xin hoạ sĩ Hà Cẩm Tâm cho biết trong cuộc triển lãm lần này có chủ đề gì? Ý chúng tôi muốn hỏi ngoài đề tài NGỰA tràn ngập trong các tác phẩm của ông, điều gì mới trong đợt triển lãm này?
Cuộc triển lãm kỳ này có chủ đề là Ngựa, Hoa và Trừu tượng. Cái đẹp của đường nét ngựa, tâm tánh, sự phục vụ của một loài vật về mọi mặt tự cổ chí kim. Cái đẹp của các loài hoa và thiên nhiên. Cái đẹp của tâm tưởng (tranh trừu tượng) không nói nên lời.
2- Màu sắc CHỦ trong tranh ông là gì? Tại sao?
Màu sắc của trời đất, biển cả, sông ngòi, hoa cỏ, “của trời đất kho vô tận”. Màu sắc “chủ” trong tranh tôi kỳ này là “Trắng và Đen”.

3- Ông nghĩ người xem nên thưởng ngoạn tranh ông bằng thái độ nào?
Mở tấm lòng, thưởng thức bằng cảm tính, không bằng lý tính, bằng tịch mịch không bằng lý luận ồn ào…

4- Theo ông, người xem tranh, có cần kiến thức về hội hoạ không? Tại sao?
Nghệ thuật tạo hình, màu sắc, bố cục… là một thế giới bát ngát, mênh mông. Lòng yêu tranh là yếu tố đầu tiên và căn bản để lãnh hội được niềm hạnh phúc khi thưởng thức cái đẹp. Tuy nhiên kiến thức về hội hoạ cũng rất cần biết về những điều căn bản bằng cách kêt thân với một vài hoạ sĩ và đi xem các cuộc triển lãm của các hoạ sĩ kim cổ đông tây. Căn bản vẫn là trái tim thao thức.

Tác phẩm “Hường về ánh sáng” của họa sĩ Hà Cẩm Tâm

5- Trong những tác phẩm của ông, ông yêu tác phẩm nào nhất? Bức đó đã vẽ vào giai đoạn nào trong đời ông? Tại sao?
Sự xúc động về cái tàn bạo của chiến tranh và bạo lực đau nhói tâm can nên tôi đã sáng tác một bức tranh khổ lớn 3mX 1.50m vào năm 1965. Bức tranh này triển lãm ở Hội Việt Mỹ Sai gòn vào cuối năm 1965 và được một người Mỹ mua. [Ông có một gallery ở New York, sưu tập tranh tôi về các thể loại: trừu tượng, ngựa, hoa, thiên nhiên…] Ngoài ra, trong thập niên 1080-1990 tôi có sáng tác một loạt tranh trừu tượng khổ 4’X4’, 4’X6’, 4’X8’ mà tôi rất ưng ý. Nhớ lại kỳ triển lãm tranh vào tháng Bảy, 1973 tại Alliance Francaise (Pháp Văn Đồng Minh Hội) tại Sài gòn, tôi có bày một bức khổ lớn là 1.20mX2.40m tên là Transition (Hoán Chuyển) do ông bà Nguyễn Kỳ và Thanh Thuỷ mua và để ở phòng khách đường Bùi Thị Xuân. Ông bà Kỳ qua Mỹ vào tháng 4, 1975. Những người em của ông bà đã ở lại trong ngôi nhà đó và sau đó vượt biên được an toàn vào các năm 1978, 1979 và 1980. Có tin đồn là bức tranh Transition có một sức mạnh huyền nhiệm giúp bao nhiêu người ở trong căn nhà đều vượt biên và đến bờ bến an toàn. Trong đời vẽ tranh có nhiều kỷ niệm thật dễ thương và ngược lại. Nhưng đời c’est la vie mà!

6- Ông nghĩ gì về hội hoạ Việt Nam hải ngoại? Xin ông một cái nhìn chung về các tác giả hiện ở hải ngoại và tác phẩm của họ?
Thành thật mà nói hội hoạ Việt Nam Hải ngoại vẫn tà tà hội nhập vào sinh hoạt của ngành nghệ thuật tạo hình quốc tế, nhưng chưa có một tiếng vang hay đặc diểm nào nổi bật. Tôi chỉ vẽ tranh như một nhu cầu trong đời sống để có sức quân bình mà tồn tại trong nền văn minh vật chất. Tôi ân cần dâng hiến cho đời niềm vui nhỏ thưởng thức nghệ thuật, thư giản áp lực bủa vây như hiện nay.
7- Ông có xem tranh của các hoạ sĩ trong nước không? Ông có đặc biệt yêu thích tác giả nào hiện nay trong nước?
Trong nước có nhiều gallery mọc lên như nấm, hoạ sĩ sáng tác cũng rất rất là nhiều. Đủ các trường phái không sao kể cho hết. Hoạ sĩ tôi thích là Nguyễn Trung. Anh đã hồn nhiên đổi sang trừu tượng, sáng tạo rất sung mãn. Thế giới tạo hình Nguyễn Trung rất lạ, riêng, huyền bí. Tự do, tình yêu và hạnh phúc tràn trề trong hoạ phẩm Nguyễn Trung.
8- Ông thường sáng tác vào thời gian nào trong ngày, trong tuần, trong tháng trong năm? Sáng trưa chiều tối? Đau khổ, đớn đau? Niềm vui hạnh phúc? Tại sao?
Thời gian sáng tác rất uyển chuyển. Có khi vẽ suốt ngày, suốt đêm liên tiếp suốt tuần suốt tháng. Có khi cầm cọ, palette màu ngồi trước khung bố cả mấy giờ liên tiếp và cảm hứng bị nghẹt ngòi đành bỏ bỏ cọ, xách xe chạy lang thang vào các công viên nhập cùng cây cùng cỏ, cùng nước trời… Tôi vẽ hạnh phúc, tôi vẽ nỗi buồn, niềm vui, nỗi tuyệt vọng, nét ngậm ngùi, niềm hy vọng. Từ ngày vượt biên và đến Mỹ (1978-2009) là 31 năm, không tháng năm nào là tôi ngưng sáng tác. Nghệ sĩ không sáng tạo là nghệ sĩ chết. Tôi sống và vẽ không ngơi nghỉ. Màu sắc là người bạn chân tình, là bóng mát giữa sa mạc, là giòng suối ca hát trong lòng… Có rất nhiều người Mỹ khi ngắm bức tranh Ngựa hỏi tôi sáng tác một bức tranh trong bao lâu. Tôi trả lời tôi vẽ từ 12 tuổi, học trường vẽ 10 năm, suy tư một tháng và hoàn thành bức tranh trong ½ ngày hay nhanh hơn, chậm hơn…
9-Cuộc sống của một hoạ sĩ như ông ra sao trong thời gian này?
Cuộc sống tôi đơn giản như đang giỡn. Mỗi ngày sống là một ân huệ trời ban. Đói ăn khát uống và luôn biết ơn và nhớ ơn người ơn đời. Cảm tạ đất nước Mỹ là quê hương thứ nhì đã dung dưỡng trong suốt hơn 30 năm. Cảm tạ hoa cỏ thiên nhiên đã thân ái dạy tôi cách sống thanh thản tử tế và thuận thảo trong tất cả mọi hoàn cảnh trong từng hơi thở nhịp tim.
10- Nếu phải bỏ hết những gì ông đã sáng tác, chỉ giữ lại trong căn phòng mình một bức thôi, thì bức đó đã có chưa? Hay còn thai nghén?

Họa sĩ Hà Cẩm Tâm và tác phẩm “Ngựa” của ông

Tôi vẽ tranh trong 60 năm. Không tháng nào là tôi không vẽ. Mỗi năm trung bình triển lãm hai lần, trong nước và nước ngoài. Thật lòng, tôi đã quên đi những bức tranh tôi đã vẽ một cách hồn nhiên. Tôi cũng không có ý giữ một bức tranh nào gọi là tuyệt tác phẩm (masterpiece – chef-d’oeuvre). Tôi muốn cống hiến tất cả tranh tôi cho đời gọi là chút niềm vui nhỏ như một giọt nước trong tứ hải muôn trùng. Vì tôi là người vẽ, nên chữ nghĩa tôi không đủ để diễn tả những điều bí ẩn, thiêng liêng. Nên xin đền đáp bằng những bức tranh, gói ghém tất cả tình cảm của một linh hồn phiêu bạt. Xin được dùng bốn câu thơ của thi sĩ Tô Thuỳ Yên trong “Tôi Về” để làm lời kết:
“Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ nổi lẻ loi…”
(NT)

******************************

source

Viet Tribune Online

Friday, 2 October 2009

Xem tranh Võ Tá Đồng


August 14, 2009


Thanh Thương Hoàng

Đây là lần thứ hai bác sĩ-họa sĩ Võ Tá Đồng mở cuộc triển lãm tranh. Lần trước năm ngoái cũng vào ngày tháng này và cũng tại địa điểm này, họa sĩ Võ Tá Đồng lần đầu tiên “ra mắt” một số lượng tranh khá lớn đã làm nhiều người ngạc nhiên không ít. Ngay bà dược sĩ chủ nhà thuốc tây cạnh phòng mạch BS Võ Tá Đồng cũng sửng sốt kêu lên: “Tôi ở bên cạnh ông ấy bao nhiêu năm nay mà đâu có biết ông ấy là họa sĩ!”. Vâng, ông bác sĩ này vốn là người khiêm tốn lại ít nói. Ông ít nói về mình. Ông chủ trương để những bức họa của mình “nói” thay mình.

Hình trái: Bác sĩ-họa sĩ Võ Tá Đồng, trái, hoạ sĩ Trương Thị Thịnh và nhà văn Trương Vũ trong ngày khai mạc phòng tranh. Hình phải: Nữ nhạc sĩ Tú Minh, trái, và Cô Laurianne Le (Lợi), người tổ chức phòng tranh. Photo Trương Xuân Mẫn

Lần triển lãm thứ hai này cũng gây ngạc nhiên không ít, ngoài những bạn bè thân thiết, những người khách phương xa du ngoạn thành phố Thung Lũng Hoa Vàng, tình cờ bước vào phòng tranh Võ Tá Đồng đã không ngớt lời khen tặng. Có vị kéo tay nhà họa sĩ tới ngay trước bức tranh “Hoàng Hôn Trên Sông” nói: “Tôi lấy bức tranh này”. Bức tranh vẽ buổi hoàng hôn trên sông với trời nước bao la hòa quyện trộn lẫn trong một mầu vàng tươi sậm. Giữa dòng sông là ba chiếc thuyền nan nhỏ xíu lững lờ trôi. (Phải chăng đó là tượng trưng cho những phận người nhỏ nhoi lênh đênh trên dòng đời mênh mông dưới một tia sáng (nhỏ) mặt trời rọi chiếu. Bên kia ven sông là xóm làng quê với những vòm cây xám đen âm u thầm lặng. Bầu trời mênh mông vàng thắm như tấm lụa cùng với con sông nước (cũng vàng thắm như tấm lụa) bao quanh trùm phủ xóm làng. Đây rõ ràng là điển hình một xóm làng Việt Nam vùng đồng bằng sông Cửu Long, dù trải qua bao biến thiên vẫn chẳng hề thay đổi sắc mầu, thay đổi da thịt! Vẫn mầu vàng quê hương nồng thắm Việt Nam với tầng cây xanh đậm hay dầy đặc những hàng dừa xanh ngắt từ muôn đời, không phai mầu, không trơ trụi. Vị khách quả là người tinh ý và bén nhậy khi chọn lựa mua ngay bức tranh này.

Tranh Võ Tá Đồng-Chân Dung Nữ nhạc sĩ Tú Minh.Photo Trương Xuân Mẫn

Một vị khách khác dưới quận Cam lên sau khi mua bức “Bác sĩ Nguyễn Thế Kiệt” nhất định đòi mua thêm bức “Nỗi Nhớ Quê”. Tiếc rằng bức này đã có người mua từ lúc khai mạc phòng tranh. Tranh vẽ cái cầu tre với hai chân cầu mong manh, chênh vênh bắc ngang con sông nhỏ êm đềm thầm lặng đưa nước về những cánh đồng. Bên kia sông lác đác vài ba căn nhà mái tranh (lại cũng vàng thắm) thân yêu ngàn đời của miền thôn quê Việt Nam. Đề tài bức tranh không có gì mới lạ, nếu không nói là…rất cũ. Nhưng với nét vẽ của tác giả, nhìn vào bức tranh lòng người thưởng ngoạn không thấy cũ mà còn cảm thấy sao xuyến cả tâm can. Tình quê hương cứ thế rào rạt dâng lên. Ôi con sông nhỏ với “cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi”, với xóm làng nghèo nàn đơn sơ những mái nhà lá xám vàng hiu hắt. Nỗi nhớ quê hương dài dằng dặc như dòng Cửu Long chẳng bao giờ ngưng chuyển nước. Nhưng ở phía sau những căn nhà lá đơn sơ đó (chắc chẳng phải tác giả vô tình) người ta thấy thấp thoáng một chân trời nơi chốn xa xa ẩn hiện những áng mây ngũ sắc như báo hiệu một mùa xuân lấp ló, đang đến gần. Người ta bảo mỗi bức tranh là một bài thơ không lời (A picture is a poem without word – Horace). Quả đúng như vậy.
Khác với lần triển lãm trước, lần này họa sĩ – tuy vẫn với tinh thần ngẫu hứng (thích là vẽ) có “phân định” cho phòng tranh của mình ba “lằn ranh” rõ rệt: 10 bức vẽ chân dung các nhân vật quen biết trong cộng đồng hay là bạn thân của tác giả. 10 bức vẽ phong cảnh – đa phần là cảnh quê xưa. 10 bức tranh trừu tượng. Thêm vào đó là mấy bức tranh “nuy” được tác giả “nhốt” trong một góc phòng nhỏ có màn che như muốn chỉ dành riêng cho quý ông “chiêm ngưỡng” đường nét diễm kiều hấp dẫn của những người đẹp, nhất là bức “Tắm Đêm”, vẽ một cô gái hoàn toàn để mình trần đứng bên vại nước sửa soạn dội nước xuống tấm thân ngà ngọc. (Nhiều đấng nam nhi muốn mua về nhà treo lắm – trong phòng ngủ hay phòng tắm thì thật tuyệt vời nhưng có lẽ ngại các “mợ” hoạn thư cự nự – nên đành ngắm tranh cho thỏa…con mắt!.)
Trước hết tôi muốn nói về 10 bức tranh trừu tượng. Đa số được vẽ trên khổ lớn với những mầu sắc xanh vàng đỏ tím tươi sáng, rực rỡ, mạnh bạo. Nhất là bức “Ngưỡng Cửa Thiên Đàng”. Phải nhìn nhận là tác giả công phu lắm khi vẽ và gửi gấm nhiều điều không thể nói bằng lời qua bức tranh này. Càng nhìn, càng ngắm (người coi) càng thấy muốn hiểu sao, nghĩ sao cũng được vì “nó” mông lung huyền ảo, không diễn tả một cái gì nhất định nhưng lại diễn tả rất nhiều. Có lẽ tác giả muốn dành phần này để khách thưởng ngoạn tự sáng tạo. Có một ông Tây đã nói người văn nghệ sĩ chỉ sáng tạo 50% tác phẩm, 50 % còn lại dành cho người thưởng ngoạn tự sáng tạo. Và “nghệ thuật vĩ đại cũng phi lý như âm nhạc vĩ đại. Nó điên cuồng với vẻ đáng yêu của nó”. (George Jean Nathan)
Về các bức vẽ chân dung, phải nói là tác giả đã thể hiện được “cái thần” hay nét đặc trưng của từng khuôn mặt của từng nhân vật. Mỗi khuôn mặt là một vẻ, một dáng điệu. Khi bước vào phòng tranh tôi không khỏi sững sờ với một bức tranh thật lớn, lớn nhất trong phòng tranh, vẽ một người đứng như người thật với khuôn mặt đăm chiêu nghiêm nghị, đôi mắt xa vời như đang đi tìm một cái gì đó ở nơi chốn chân trời nào đó. Đây là bức tranh duy nhất họa sĩ vẽ đủ mặt mũi thân mình chân tay một nhân vật chiếm trọn bức tranh. Đó là bức tranh vẽ nhà khoa học Nguyễn Xuân Vinh. Tôi tưởng như ông đang đứng trong khung vải. Nét vẽ sinh động của họa sĩ đã làm nhiều người hết lời ca ngợi. Rồi bức “Áo Tím Ngày Xưa” không phải chỉ riêng các ông mà các bà cũng thắc mắc “có phải là bà ấy không?”, “Thì còn ai vào đây nữa”. Bức tranh này làm tôi nhớ tới 4 câu thơ của thi sĩ Hải Phương: “Nghe rằng xưa tóc em dài. Nghe rằng áo tím sớm mai tới trường. Chỉ nghe chim hót ngoài vườn. Đọc thơ xứ Nghệ mà thương nàng kiều”. Còn nhiều bức chân dung có thể nói là ngó qua rồi khó quên như bức vẽ một nữ ca nhạc sĩ nổi danh (tôi xin không nêu tên). Như bức “Người Đi Trên Mây” với những đường nét tài hoa, sinh động. Mái tóc bạc bàn tay trái chống cằm, đôi mắt nhìn đâu đâu không biết. Tôi cũng là người đang đi trên mây nên rất thích bức tranh này. Hỏi mua thì được trả lời là có người đặt rồi.
Về 10 bức phong cảnh được nhiều người “chiêm ngưỡng” nhất. Có lẽ tình quê hương sau hơn 30 năm xa cách vẫn bừng bừng nở rộ trong tim mọi người khi nhìn thấy cảnh cũ vật xưa.
Bài viết đã khá dài mà tôi thì còn muốn viết nữa, vì còn quá nhiều điều muốn nói nhưng ông bạn chủ biên cứ luôn nhắc: “Ông ơi, một trang thôi nhé!” nên tôi xin mượn lời nhận xét của một họa sĩ nhà nghề để kết thúc bài báo này. Khi được hỏi anh có nhận xét gì về những bức tranh của họa sĩ Võ Tá Đồng, họa sĩ Đào Hải Triều đáp: “Tranh vẽ đẹp, đẹp lắm! Và tôi yêu nhất những bức vẽ về những chân trời cũ, tức cảnh đồng quê sông nước của quê hương chúng ta”. Còn bác sĩ-họa sĩ Võ Tá Đồng thì cho biết ông chưa hài lòng lắm về những “đưá con” của mình. Theo ông, chỉ khi nào những bức tranh được đời nhìn nhận là tác phẩm thì lúc đó mới dám nhận mình là họa sĩ.
Tôi không phải là họa sĩ, cũng không phải là nhà phê bình hội họa. Tôi chỉ viết theo cảm nhận chủ quan của tôi, một người thưởng ngoạn nghệ thuật trong một hiểu biết hạn hẹp về hội họa. Theo tôi, tranh của Võ Tá Đồng đa số đều vui tươi tràn đầy hy vọng, tràn đầy sức sống với những sắc mầu rực rỡ. Rất hiếm những cảnh đơn điệu tiêu điều buồn thảm tối tăm. (Chỉ có một bức duy nhất “Tiếng Hát Trương Chi” là buồn thôi, nhưng là cái buồn có từ ngàn xưa, chỉ còn dư vang ở lại). Phải chăng đó là tấm lòng của người thầy thuốc yêu người yêu đời đã trộn lẫn nghề vào với nghiệp? Người văn nghệ sĩ cũng như người thầy thuốc, phải có một tấm lòng thì mới thành đạt mong muốn hoài bão của mình. Nếu không chỉ là những thợ viết, thợ vẽ hay những con quạ đen khoác áo trắng rúc rỉa thân xác bệnh nhân.
Tôi tin con đường hội họa phía trước đang rộng mở để chờ đón những người tình nguyện dành cả đời mình cho nghệ thuật. Họa sĩ Võ Tá Đồng đang bước trên những bức họa của mình hôm nay để tiến tới danh phận một họa sĩ chính danh với những bức họa xứng đáng là những tác phẩm hội họa. [TTH]

*************************

source

Viet Tribune Online