Showing posts with label cam nhan Saigon. Show all posts
Showing posts with label cam nhan Saigon. Show all posts

Wednesday, 1 February 2012

NGƯỜI TÌNH TRƯNG VƯƠNG


Hư Vô

NGƯỜI TÌNH TRƯNG VƯƠNG

Gọi người em gái Trưng Vương
Về phơi áo trắng bên hiên học trò
Tóc thề chẻ nhánh so đo
Buồn ngang quai nón buộc hờ tương lai

Sẵn tôi còn trống đôi vai
Mời em tựa xuống hình hài chung thân
Dìu nhau qua phố tình nhân
Để nghe hơi thở em gần thịt da

Tay đan bối rối lụa là
Dáng em nghiêng xuống in qua dấu trần
Tóc thề còn biết phân vân
Thuơng em hai phía , biết hôn bên nào !

Lỡ mai mình có mất nhau
Em còn giữ lại nhánh nào để quên
Gọi người em gái Trưng Vương
Khô môi theo sợi nắng đường lá me...


Hư Vô


Được bạn: vdn 2.4.08 đưa lên
vào ngày: 10 tháng 11 năm 2011

source

vnthuquan.net

photo source

http://hdangbinh12saigon.blogspot.com/2010/10/hinh-anh-sai-gon-1965-1975.html

Wednesday, 28 July 2010

Người đẹp gốc Việt đăng quang tại cuộc thi sắc đẹp Mỹ



Người đẹp gốc Việt đăng quang tại cuộc thi sắc đẹp Mỹ

Ngày 10/7 vừa rồi, người đẹp gốc Việt Michelle Nguyen đã giành chiến thắng trong cuộc thi Miss National Asia Pageant (Hoa hậu châu Á tại Mỹ) lần thứ 5, tổ chức tại San Francisco (Mỹ).
Miss National Asia Pageant là cuộc thi sắc đẹp dành cho các cô gái châu Á đang sống tại Mỹ. Mục đích của cuộc thi này là nhằm tìm kiếm những gương mặt châu Á xuất sắc đang sống và làm việc tại Mỹ, qua đó, thặt chặt tình hữu nghị, đoàn kết giữa các cộng đồng người Á đang sinh sống tại đây.
Cuộc thi Miss National Asia Pageant bắt đầu được tổ chức thường niên từ năm 2006 và do tổ chức Thanh niên trung Quốc thực hiện. Các thí sinh tham dự cuộc thi này sẽ trình diễn tài năng cá nhân, sự hiểu biết về văn hóa, khả năng ứng xử, quảng bá hình ảnh và vẻ đẹp Á châu của họ.
Vượt qua nhiều gương mặt xinh đẹp tại cuộc thi, người đẹp gốc Việt Michelle Nguyen đã giành danh hiệu Miss National Asia Pageant năm 2010. Dưới đây là hình ảnh của người đẹp gốc Việt Michelle Nguyen trong đêm thi, tối 10/7:
source
HAI VAN News

Friday, 26 February 2010

CON DIỀU


Nguyễn Hưng Quốc Blog

Chùm truyện cực ngắn của Nguyễn Viện

Nguyễn Viện
Hình: vietnamlit.org

Trong giới viết văn xuôi tại (...) hiện nay, Nguyễn Viện hầu như là nhà văn duy nhất dám đối diện với các vấn đề (...) nóng bỏng và nhức nhối nhất của đất nước. Ông đối diện với những vấn đề ấy – cũng có nghĩa là đối đầu với vô số những (...) chung quanh– chỉ với một vũ khí duy nhất: tiếng nói. Thừa can đảm, nhưng Nguyễn Viện cũng sáng suốt đủ để biết rõ tiếng nói của người cầm bút, cũng như của giới trí thức nói chung, không phải lúc nào cũng trong sáng và có sức mạnh như ý. Ở bên này, đã vậy. Ở bên kia, cũng vậy. Không có chút ảo tưởng.

Xin mời quý bạn đọc thưởng thức chùm truyện cực ngắn mới nhất mà nhà văn Nguyễn Viện muốn tặng, trước hết, cho độc giả trên blog của chúng ta.

À, mà bạn có muốn làm một con diều không nhỉ?

Riêng tôi, lúc nào tôi cũng ngưỡng mộ những người dám sống với trạng thái “chao đảo và chơi vơi”.

Đúng như Nguyễn Viện viết, để sống như thế, người ta cần phải tự tin ghê lắm.

NHQ

NGUYỄN VIỆN
TÔI Ở PHÍA BÊN KIA


Hắn nói: “Chúng tôi muốn ông đóng một vai trò tương xứng và hữu ích”. Tất nhiên, cả tôi và hắn đều hiểu giống nhau “tương xứng và hữu ích” là như thế nào. Thế là tôi trở thành kẻ được chọn.

Tôi không cần phải chuẩn bị gì. Người ta dẫn tôi ra trước đám đông và nói: “Đây là con của giao hòa”. Bổn phận của tôi là cười với tất cả mọi người. Và tôi đã nở một nụ cười thật tươi. Tôi cúi chào chung quanh. Không có tiếng vỗ tay. Hắn đứng sau lưng tôi bảo: “Ông cứ nói đi, tất cả mọi người đang lắng nghe ông”. Và tôi nói: “Chúng ta là một thực thể, chúng ta cũng là một thực tế, và chúng ta cũng sẽ là một khả thể”. Không có ai phản đối. Tôi nói tiếp: “Chúng ta ai cũng phải ăn, ai cũng biết nghĩ và tất nhiên suy nghĩ của chúng ta không giống nhau. Bởi thế tôi đã được sai đến. Tôi là giao hòa”. Vẫn im lặng. Hắn đứng sau lưng bảo: “Tốt lắm, tiếp đi”. Và tôi nói: “Ai cũng sẽ có chỗ của mình. Đàn ông và đàn bà, phụ lão và thiếu nhi, hãy rửa ruột để ơn phúc được chứa đựng”. Hắn đá vào chân tôi, nhắc: “Biện chứng duy vật”. Tôi hắng giọng: “Tôi nói các bạn có nghe rõ không”? Trong lúc các tiếng ồn từ từ dậy lên, tôi nghĩ: “Đây là vấn đề thể thức”. Và tôi quay lại, muốn nhìn vào mặt hắn, nhưng không còn thấy hắn đâu nữa.

TÔI Ở PHÍA BÊN NÀY

Hắn nhốt tôi vào trong một cái thùng, bảo: “Đấy, mày muốn nói gì thì nói”. Được nói thì dẫu nói trong một cái thùng thì cũng hơn không. Và tôi nói: “Đây là tiếng nói của một cái thùng. Không phải thùng rỗng, vì trong thùng có tôi. Mặc dù là cái thùng nhưng không thể kêu to. Hãy lắng nghe như nghe tiếng của loài muỗi”. Tiếng của tôi dội vào hai lỗ tai, lùng bùng. Tôi cố gắng nói tiếp: “Tôi nói các bạn có nghe rõ không”? Dường như không có bất kỳ ai đã nghe thấy. Tôi nghĩ: “Thế giới này không còn người”. Đáp lại ý nghĩ của tôi, tiếng muỗi vo ve như tiếng sáo diều. Tôi lại nghĩ: “Tại sao mình lại không mường tượng đó là tiếng sáo diều để được nhìn thấy trời cao rộng”. Tôi nghĩ tiếp: “Nhất định khi nào mình ra khỏi cái thùng này sẽ phải làm một con diều cho thỏa sự mơ mộng và thơ ngây”.

CON DIỀU

Ít nhất thì nó đã bay lên khỏi mặt đất gần 100 thước. Thật ra, tôi vẫn có thể leo lên một building ba bốn chục tầng nhấm nháp ly cà phê và nhìn xuống thế giới bên dưới. Nhưng ngồi trên một cánh diều thì cảm giác khác hẳn. Chao đảo và chơi vơi.

Cái cảm giác không có chỗ dựa và cũng không phải tự do thật khốn khổ. Làm thế nào duy trì được cảm thức bay bổng và trạng thái an toàn không phải là điều dễ dàng. Chỉ còn một sự trông cậy duy nhất, tin vào chính mình. Nhưng cỡi lên lưng cọp hay ngồi trên cánh diều thì cũng chẳng khác nhau mấy. Cuộc đời không còn tùy thuộc vào mình mà nó tùy thuộc vào sự run rủi. Dù sao tôi cũng phải dự trù tình huống diều đứt dây hay mất gió cắm chúi xuống đất. Trong trường hợp ấy, tôi nghĩ, một vài giây đủ để tôi vẽ một đường bay đến chân trời.

16.2.2010

************************

source

VOA Vietnamese

Wednesday, 24 February 2010

Bùi Giáng, Đi về với gió du côn


Nguyễn Xuân Hoàng và Bạn hữu



Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

(Chào nguyên xuân, Mưa Nguồn. BG)

Bước ai đi vào, hay bước chân rất nhẹ của Bùi Giáng. Và nói về anh nữa có là sai.

Họ Bùi tuổi Cọp hút heo, Vèo bay khói thuốc mốc meo linh hồn” (Chào mừng Sài gòn 1989. Thơ Bùi Giáng, trang 56, Việt Thường, Canada, xb1990). Như vậy anh sinh năm Dần, mất cũng năm Dần …(1)

Sách báo bài viết đã quá nhiều, cứ góp thêm từng kỷ niệm, nhớ anh những ngày xưa, cũ. Năm 1989, những ngày tôi bận rộn dọn dẹp xưởng vẽ trong con hẻm nhỏ đường Nguyễn đình Chiểu, Tân Định để cùng gia đình đi Mỹ, không biết linh tính thế nào, anh Bùi Giáng ngày nào cũng ghé chơi. Sáu giờ sáng đã đến kêu cửa. Đi xích lô từ Gia Định qua và kêu tôi ra trả tiền. Anh thường dậy và đi thật sớm. Bốn năm giờ sáng đi, cho đến chín mười giờ tối trở về căn chòi ở góc vườn nhà người cháu đường Lê quang Định, Gia Định. Một căn chòi khoảng hai thước vuông,vách ván, vá víu thêm những miếng các tông thùng. Bên trong chỉ cái giường gỗ duy nhất, quanh năm treo mùng, chiếc mùng trắng cũ ngã màu vàng ố. Quanh phòng đầy giấy vụn, áo quần, giày cũ đủ loại, mỗi thứ một chiếc khác nhau, anh đi lượm về. Một ngọn điện vàng, một cây đèn dầu, những chiếc bị lác xơ xác, cái mũ, chiếc nón lá rách và vài ba quyển sách cũ… Quyển Lễ Hội Tháng Ba là quyển anh giữ bên người lâu nhất, anh ghi đủ thứ, trên mỗi ngày rong chơi phố thị. Anh tặng tôi quyển sách ấy rồi sau đòi lại…

Bui Giang

Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, Sài Gòn).

Sau 1975, anh về nhà người cháu như kể trên. Đây là một xóm rộng, nhiều ngõ ngách, nhiều cây xanh im mát của vùng Gia Định. Xóm này là nơi anh đi về thân quen, đám trẻ nít hay chạy giỡn múa may theo anh. Trước khi về nhà, anh thường ghé quán tạp hoá đầu ngõ mua các thứ linh tinh hay uống ly rượu đế. Thích nhất là quán cô Thu ở gần nhà anh sâu trong ngõ, vì cô Thu hay bênh vực khi anh bị đám trẻ nít theo chọc phá. Bạn đến thăm là rủ đến đó uống bia hơi, bia lên men, rượu đế với vài gói đậu phụng, hút thuốc cho đến đoạn tàn – mẫu thuốc tàn vất xuống là anh lượm để dành. Anh thích vậy. Đi ăn hủ tiếu mì thì thích ngồi chồm hổm, ăn thịt trước rồi mới ăn xác, và húp cạn nước sau. Hỏi vì sao khi nào cũng lượm thịt ăn trước thì anh nói ăn cái ngon trước, lỡ nửa chừng chết sao …Chỗ anh hay ghé nhất là quán cà phê Huy Tưởng (2) ở ngã ba đường Trần quang Khải và Bà Lê Chân, cạnh chợ Tân Định, đứng múa may, chỉ đường ở đó. Làm gì quá lắm, chỉ có chị Bình (anh gọi là Thánh Nữ muôn vàn), vợ anh Huy Tưởng ra nói thì anh mới chịu nghe. Mỗi lần chở Honda cho anh đi là rất sợ, ngồi sau cứ múa may, đứng lên ngồi xuống rất nguy hiểm. Thường chở anh ghé nhà Hải Phương (3) và chị Quận đường Nguyễn thiện Thuật, Bàn Cờ, và nhà vợ chồng em trai Phạm công Thiện ở hẻm bên hông Đại học Vạn Hạnh. Có khi nhờ chở đi nhận tiền của bà con anh ở nước ngoài gởi về nơi nhà người quen. Thời còn thịnh hành truyện Kim Dung đăng hằng ngày trên các nhật báo Sài Gòn, Bùi Giáng đã đón đọc bằng tiếng Tàu những bài báo mới nhất từ Hồng Kông gởi qua. Đã dịch Kim Kiếm Điêu Linh của Ngọa Long Sinh, Võ Tánh xb 1967. Anh còn là dịch giả tài hoa nhất những tập truyện của Saint Exupery, Albert Camus, André Gide, Gerard de Nerval (Hoàng Tử Bé, Cõi Người Ta, Ngộ Nhận, Khung Cửa Hẹp, Mùi Hương Xuân Sắc…). Năm 1972, Thượng Tọa Thích Nhất Hạnh có ý kiến làm tập Dialogue, đối thoại với các nhà văn, nhà thơ, nhà tư tuởng ở các nước Tây Phương đang ảnh hưởng đến văn học Việt Nam lúc bấy giờ. Thầy Nhất Hạnh nhờ Bùi Giáng viết lời mở đầu – avant-propos ­- phần bên trong gồm nhiều tác giả viết như Phạm công Thiện viết cho Henry Miller, Vũ hoàng Chương, Tam Ích, Hồ hữu Tường viết cho Jean-Paul Sartre, Simone Weil…Duy nhất có Bùi Giáng viết cho nhà thơ lớn của Pháp là René Char, được chính René Char hồi âm, kèm theo những tập thơ với lời đề tặng trang trọng và quý mến. Bùi Giáng viết rất mông lung mà đã đi vào trái tim của người thi sĩ muôn trùng cách biệt …Năm 1965 cháy nhà, bị mất biết bao sách quý, trong đó có sách của Albert Camus, René Char đề tặng Bùi Giáng, ít ai có được.

Bui Giang

Vui thôi mà, ba chữ mà chúng ta hay nói với nhau ngày nay…là từ Bùi Giáng đã nói với Mai Thảo (4) những năm bảy mươi khi ông [cùng với Nguyễn Xuân Hoàng] làm ở toà soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn, nhân Mai Thảo hỏi Bùi Giáng vì sao suốt ngày rong chơi mà viết và làm thơ nhiều đến vậy…Nhiều lần ghé toà soạn, Mai Thảo kể: “Một vài lần khác, chúng tôi đi ra ngoài một lát trở về, thấy ông nằm ngủ ngon lành trên hai cái bàn dài kê liền lại. Giấc ngủ dài, quên đời, quên hết, mặc hết, phải đánh thức dậy. Những lần đó, ông ngồi dậy im lặng, bất động, thì thầm câu Vui thôi mà, vui thôi mà, rồi lặng lẽ bỏ đi, cái bóng dáng gầy đỗ, gầy guộc trong chiều xuống.” (Văn, số 26.tháng 8.1984, California. Một vài kỷ niệm với Bùi Giáng).

Về sách thì phải kể đến nhà xuất bản An Tiêm của Thầy Thanh Tuệ (5), cuối năm 1969 và những năm 1970 gần như là dành riêng in sách Bùi Giáng, bìa và nội dung được chăm sóc kỷ lưỡng. Nhà xuất bản An Tiêm ở đường Lý thái Tổ, Sài Gòn, cũng là nơi họp bạn bè văn nghệ, mỗi lần có sách mới in xong. Ở đó tôi đã gặp Bửu Ý, Nguyễn đức Sơn, Phạm công Thiện …và Bùi Giáng. Chúng tôi ngồi trên căn gác nhỏ thoáng mát ăn nhậu và các vị luôn cãi nhau đủ thứ chuyện …rồi lại ngồi im nghe những dĩa nhạc cổ điển cỡ lớn, là sưu tập riêng rất quý của Thanh Tuệ. Sau 75 phải đem bán chợ trời thật uổng. Nhân nhắc Bửu Ý, có thể nói là người cùng đi bộ với Bùi Giáng dài đường nhất, đi từ Sài Gòn vô Chợ Lớn thường xuyên. Những năm 60 Bửu Ý từ Huế vào làm báo Mai của Hoàng minh Tuynh, người đã cùng với Huỳnh văn Lang làm tờ Bách Khoa những năm khởi đầu.

Bùi Giáng đặc biệt mê tranh Chagall dù cuộc đời anh khốc liệt không kém Van Gogh, trong tập thơ Ngàn Thu Rớt Hột, Lá Cồn xuất bản năm 1963, có hai bài: Marc Chagall, Lý Bạch và Chagall. Bài Marc Chagall, năm 1973 in lại trong Bài Ca Quần Đảo, nhà xuất bản Nguyễn đình Vượng, anh đề tặng Nguyễn sỹ Tế (6). Đọc lại, thấy thơ anh đôi khi là một vẻ đẹp huyền bí, thơ mộng:

Buổi về đắm lụy điêu linh
Còn nguyên xứ sở mang hình chiêm bao
Máu se tàn lạnh điệu chào
Trên đầu phố lạ vẽ màu quê chung

(Marc Chagall, Ngàn Thu Rớt Hột, trang 39)

Anh thường la cà đến chỗ vẽ của Đỗ quang Em, khi nào cũng ghé tôi cùng đi. Lần Trịnh công Sơn, Đỗ quang Em và tôi bày tranh chung tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc, từ 14 đến 24 tháng giêng 1989 (trước 1975 là Alliance Francaise, đường Gia Long, Sài Gòn. Nơi này, Hội Họa Sĩ Trẻ chúng tôi thường mượn để họp và bày tranh. Nhớ nhất là Chú Tư, luôn cầm chiếc khăn trắng lau mấy chiếc ly thuỷ tinh ở quầy rượu). Buổi bế mạc phòng tranh anh ghé đến đòi uống whisky, say quá phải đưa anh về xưởng vẽ tôi nghỉ. Sẵn giấy màu anh cao hứng tự vẽ chân dung mình …thật đã.

Hai người bạn ở nước ngoài về rất mê anh là Ngô văn Quế (Ngô văn Tao) ở Canada, Nguyễn chí Trung ở Đức. Trong tập thơ Mây, xuất bản tại Montreal, Canada, 1988, Ngô văn Tao đã viết: “Nhưng một hai trăm năm nữa, thời đại của chúng ta có nhiều nước mắt, có nhiều chờ đợi, sẽ chỉ còn là một gợn sóng trong muôn ngàn gợn sóng của lịch sử. Khi những công trình zù bằng đá hoa sẽ đi vào hoang phế để lại mấy vụn xương khô, thì thơ văn của Bùi Giáng sẽ tồn tại trong sử sách” (Bùi Giáng thi nhân, trang 180). Nguyễn chí Trung làm hàng trăm bài thơ lục bát mang âm hưởng Bùi Giáng …

Bùi Giáng rất chí tình với bạn bè, ngày Thanh Tâm Tuyền (nhà thơ nổi tiếng trong nhóm Sáng Tạo, đã mất tại thành phố Saint Paul, Minnesota ngày 22.3.2006, thọ 70 tuổi) từ (...) về, một buổi sáng sớm, đã thấy Bùi Giáng đến thăm, mặc dầu anh ở trong ngõ khó tìm. Bùi Giáng có trí nhớ rất tốt, hang cùng ngõ hẻm nào anh cũng tìm ra.

Trong trại cải tạo Long Giao năm 1976, Thanh tâm Tuyền đã làm bài thơ Xuân đề tặng BG:

Vẫn thấy trong mơ đời trở giấc
Cỏ cây rù quyến gió hoang đàng

Trời xanh cao vút giếng nước ngọc
Đất hiền thở hương nắng thênh thang.

(Thanh tâm Tuyền, Thơ ở đâu xa, Trầm phục Khắc xuất bản, California, 1990)

Gió hoang đàng của Thanh Tâm Tuyền và Đi về với gió du côn của Bùi Giáng, theo tôi là hai ngọn gió chướng, mang ngôn ngữ ảo diệu, là hồn thơ mở phơi hào hứng một thời của Saint-John Perse, Yves Bonnefoy:

Đi về với gió du côn
Mở giông bão xuống cõi tồn sinh phai
Mép rìa vòm cỏ hương bay
Mở trang nhảy múa trên ngày phù du

(Đi Về VII, Thơ Bùi Giáng, Việt Thường xuất bản, Canada 1990)

Bui Giang

Bùi Giáng, anh đã nhảy múa trên tháng ngày phù du, cho đến khi ngã quỵ, hôn mê…từ giã cõi đời ngày 7 tháng 10 năm 1998. Anh đã: “…Tận hiến hết cả đời mình cho Duy-nhất Thơ-ca, từ buổi sơ ngộ đầu đời cho đến những giây phút cuối cùng về với chốn lâm chung. Tận hiến mà không hề nhận lại một sự bù đắp nào đối đãi nào của nhân thế, trút gửi hết thảy xương máu và hồn phách, lưu lại ở đời như vay tạm một hình cốt mong manh bi thiết và mộng mị. Với riêng tôi, hình ảnh đắm chìm của tận hiến hung hiểm đó chính là một tượng đài vĩ đại đến khủng khiếp của Thiên tài thơ Bùi Giáng …”
(Lời đọc trước mộ của nhà thơ Huy Tưởng)

Hình ảnh Bùi Giáng có thể là một tượng đài vĩ đại, nhưng chỉ ước mong sao có một tượng chân dung nhỏ của anh trong một góc công viên, hay sân chùa nào đó ở Sài Gòn, Gia Định hay Đà Nẵng, để chúng ta không còn thấy anh “nhe răng cười trong bóng tối” và để đôi khi khách du lịch còn được giới thiệu: tượng chân dung một nhà thơ kỳ lạ nhất Việt Nam.

ĐINH CƯỜNG
Virginia
, 12.2009

(1) Tiểu Sử Bùi Giáng có thể xem bài:

- Đặng Tiến - Sơ thảo tiểu truyện Bùi Giáng - có công phu xác minh rõ ràng nhất

- Bùi Giáng, Tiểu sử tự ghi (in lại trong Bùi Giáng trong cõi người ta, nhà xuất bản Lao Động. Trung Tâm Văn Hoá Ngôn Ngữ Đông Tây. Hà Nội 9.2008)

Các bài viết cuả những tác giả trong gia đình Bùi Giáng:

- Bùi công Luân: Chị và Anh.

- Bùi văn Vịnh: Về Bùi Giáng (bài nói tại Ngày Hội Thi Văn và Tư Tưởng Bùi Giáng -

California, 21.10.1995).

- Bùi văn Nam Sơn: Vài nét về Bùi Giáng.

(Chớp Biển .Thơ Bùi Giáng . Gia đình kỷ niệm 70 năm sinh, Sài Gòn - Anaheim - Koln -1996).

(2) Huy Tưởng, nhà thơ, hiện nay có quán ăn FaiFo, đường Huỳnh tịnh Của,Tân Định, Sài Gòn.

(3) Hải Phương, nhà thơ, San José – California.

(4) Mai Thảo, 1956 chủ trương biên tập tạp chí Sáng Tạo 1974, chủ trương tạp chí Văn. Mất ngày 10.1.1988, California.

(5) Thanh Tuệ, cùng gia đình sống tại Pháp, mất năm 2006, California.

(6) Nguyễn sỹ Tế, nhà giáo, viết khảo luận văn chương …mất năm 2005, California.

source

VOA Vietnamese

Thursday, 11 February 2010

Monday, 25 January 2010

Đi xem “Tôi Là Người Việt Nam”



Cập nhật lúc 2:53:04 AM - 23/01/2010

DSC_0007.jpg


Nữ ca sĩ Nguyệt Anh trong show Vietnamese Divas


Ảnh:Trung tâm Thúy Nga cung cấp


Trần Hương


Tôi ít đi xem những show văn nghệ thu hình. Lý do đơn giản là nó dài quá, trung bình hơn 5 tiếng đồng hồ, đi đứt một ngày như không, chưa kể giờ sửa soạn, lái xe, parking...

Nhưng với show “Tôi Là Người Việt Nam” vừa qua, lần đầu tiên tôi ngồi tới giờ chót. Đây là chương trình đại nhạc hội kỷ niệm 35 năm người Việt xa quê hương do trung tâm Thúy Nga Paris By Night tổ chức ở Knotts Berry Farm trong hai ngày 16 và 17-1-2010, có khán giả người Việt từ nhiều nơi trên thế giới về xem.

Chủ đề đã được trung tâm Thúy Nga thực hiện một cách trang trọng, đầy tình tự dân tộc, để tôi cảm thấy trong tim mình dâng lên thật nhiều xúc cảm.


Những ca khúc quê hương


Mở đầu là đoạn phim ngắn “Tôi Là Người Việt Nam”, lời khẳng định của các người gốc Việt khắp thế giới từ Úc, Âu, sang Mỹ.

Và khi câu hát“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi” vừa cất lên, tôi đã thấy xúc động bồi hồi. Khi những cô ca sĩ bước ra sân khấu hát tiếp những lời “kinh” của bài “Tình Ca”, tôi đã ràn rụa nước mắt. Bài hát này tôi đã thuộc nằm lòng mấy chục năm qua, nay được thể hiện bằng những giọng hát trẻ trung của 8 cô và 4 anh ca sĩ trẻ đẹp, cùng những vũ công trong những bước vũ duyên dáng với áo dài khăn đóng trước một cái phông trống đồng. Vâng, tôi đã khóc khi nghe và xem Tình Ca của Phạm Duy hôm nay. Khóc vì nhớ nhà và tiếc cho một giải quê hương gấm vóc, với những con người cần cù dễ thương, bây giờ có lẽ sắp mất đi bản chất và chủ quyền vào tay (...).


OPENNING_0414.jpg


Tình Ca với những giọng ca nam nữ trẻ đẹp của Thúy Nga


Trong show hôm nay, tôi thấy trung tâm đã đưa ra rất nhiều ca khúc quê hương như Kỷ Niệm, trong đó Dương Triệu Vũ đóng vai một anh thanh niên (chưa già lắm), ngồi nhớ lại những kỷ niệm gia đình nhà quê, nhưng sao mà êm ả dễ thương quá. Hoạt cảnh Kỷ Niệm được dựng thật đẹp và nhiều ý nghĩa. Chỉ tiếc ở đoạn cuối, cử chỉ diễn tả của Dương Triệu Vũ hơi mạnh bạo giống như sắp ra đánh giặc, chứ không phải là lời cầu xin “Cho đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau”. Tại sao Phạm Duy sáng tác ca khúc này khi mới vào độ tuổi 40, phải chăng cuộc đời lăn lộn phấn đấu bươn chải quá nhiều, khiến người ta lúc nào cũng mơ về dĩ vãng tươi đẹp, yên ấm hiền hòa.


qle_0042.jpg


Quang Lê và những cô chèo đò xứ Huế trong bài Người Em Vỹ Dạ.


Còn nữa, “Quê Hương Tuổi Thơ Tôi” đã được Ngọc Hạ trong chiếc áo dài lấp lánh, tà áo sau dài tha thướt như một cô tiên, hát thật tha thiết đầy xúc cảm. Và “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười” của Võ Tá Hân phổ thơ, được trình bày với giọng hát chắc nịch của Thế Sơn, đã gây trong tôi niềm xúc cảm lớn. Những bài hát quê hương khác nhẹ nhàng, ngọt ngào hơn như Quê Mẹ (Thu Hồ), Mời Anh Về Thăm Quê Em (Thùy Linh), Sóc Say Sóc Trăng (Thanh Sơn), Tình Đẹp Hậu Giang, Áo Thơm Rơm (Trần Thiện Thanh) Tình Cha (Ngọc Sơn) Người Em Vỹ Dạ (Minh Kỳ và Tôn Nữ Thị Khương), được hát lên bởi những giọng ca ngọt ngào của miền Nam như Hà Phương, Hương Thủy, Mai Thiên Vân, Quang Lê, Phi Nhung, Duy Trường, Thanh An... Có vẻ những ca khúc này gặt hái được rất nhiều cảm tình của đại chúng.


Những sáng tác mới với những nhạc sĩ mới


Một điểm đặc biệt trong show này là Thúy Nga đã hầu như “collect” rất nhiều những sáng tác mới của nhiều nhạc sĩ thế hệ mới. Ta có thể kể Tình Đã Vụt Bay (Tuấn Đức) với Kỳ Phương Uyên, Nhớ (Trịnh Nam Sơn) với Lưu Bích, Ở Đâu Cũng Có Em (Trần Quảng Nam) với Trần Thái Hòa, Dấu Chân Tình Ái (Ngọc Trọng) với Như Loan, Tóc Ngang Bờ Vai (Vũ Tuấn Đức) với Nguyễn Thắng, Câu Kinh Tình Yêu (Sỹ Đan) với Don Hồ, Tim Em Mãi Thuộc Về Anh (Đồng Sơn) với Minh Tuyết, Tôi Muốn Nói Yêu Em (Mai Anh Việt) với Nguyễn Hưng, Duyên Phận với Như Quỳnh, liên khúc Cơn Mưa Chiều Nay (Quốc Hùng) với Tú Quyên, Quỳnh Vi, Lam Anh, Xin Đừng Quay Lại (Diệu Hương) với Bằng Kiều, Cứ Lừa Dối Đi (Huỳnh Nhật Tân) với Hồ Lệ Thu, Biển Chiều (Trịnh Lam) với Trịnh Lam, Em Trong Mắt Tôi (Nguyễn Đức Cường) với Tóc Tiên, Quê Hương Mình (Hoài An)... Một nỗ lực đưa những sáng tác mới tới với quần chúng.


hthuy_2026.jpg


Hương Thủy và ca khúc Soksabay Sóc Trăng


Nhìn chung những ca khúc này, chúng ta có thể thấy đề tài muôn thuở vẫn là tình yêu và những trái ngang của nó, ít thấy những trăn trở về quê hương thân phận như thế hệ nhạc sĩ trước. Qua giọng ca tuyệt vời của các ca sĩ Thúy Nga, cộng thêm những điệu múa và nét diễn xuất nóng bỏng đầy gợi cảm của các vũ công và ca sĩ, các ca khúc này được đón nhận nồng nhiệt. Gợi cảm nhất vẫn là Minh Tuyết với chiếc áo “con nhà nghèo” hở bụng, hở chân. Như Loan cũng vậy. Bộ ba Tú Quyên, Quỳnh Vi và Lam Anh cũng sexy không kém. Trong khi đó, các anh thì “đằm “ hơn với những bộ âu phục bụi hay sang. Âu cũng là nét văn hóa nóng bỏng thời đại.

Những ca khúc cũ nhưng được làm mới như liên khúc Để Quên Con Tim và Và Tôi Cũng Yêu Em của Đức Huy thật sôi động, với phần trình diễn của Lương Tùng Quang và vũ đạo bay bướm cùng tiếng hát trẻ trung của Mai Tiến Dũng.


Hài kịch Thiên Đường Không Phải Là Đây


Phần hài kịch của Thúy Nga với tác giả Nguyễn Ngọc Ngạn, một nhà văn hiện thực xã hội, luôn đem đến cho khán giả những cảnh đời tiêu biểu của những con người Việt Nam trong nước hay ngoài nước, làm khán giả vừa cười nhưng lắm lúc cũng vừa trào nước mắt. Tôi đã khóc cười nhiều với những vở hài kịch của ông. Hôm nay cũng vậy, vở hài kịch Thiên Đường Không Phải Là Đây đưa ra cảnh người từ quê nhà được đem sang Mỹ nhốt trong nhà, cảnh người chồng phải tằn tiện để vừa nuôi vợ mới từ Việt Nam qua, vừa nuôi con ăn học. Tuy nhiên, đối thoại giữa hai nhân vật mẹ con do Bé Tý và Thúy Nga thủ diễn đã hơi quá dài, nên phần nào giảm bớt sức chú ý của khán giả. Chí Tài thì vẫn xuất sắc qua vai những anh đàn ông lơ ngơ.


Giới thiệu những người Việt thành công


Phần giới thiệu những người Việt thành công đã được điều khiển khéo léo với các MC Nguyễn Ngọc Ngạn, Kỳ Duyên và Trịnh Hội. Lần này, chúng ta được biết đến những người đã thành công trong “dòng chính” nhiều và đa số là thành công trong lãnh vực nghệ thuật hay dịch vụ.

Bà Nguyễn Thị Bích Yến, senior fellow của công ty Soitech, đã thành công với hằng trăm bằng sáng chế, mà bà khiêm tốn cho rằng có sự góp sức của nhiều người cùng làm việc. Bà cũng là một gương quả cảm, vì là con mồ côi của một chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa với 8 anh chị em nuôi bởi một người mẹ hiền. Ông Chính Chu, tỷ phú ở tuổi 40, nhưng có một tấm lòng bác ái sâu dày, đã yểm trợ vợ là nữ ca sĩ Hà Phương trong những công trình bác ái. Vũ sư ballet Thắng Đào với màn vũ dựa trên nhạc phẩm Ướt Mi của Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ đã đem lại cảm hứng cho anh khi nghe nhạc của ông trong một đêm buồn và cô đơn.

Về phần “bi di net”, người ta thán phục sự thành công của công ty BLT chuyên chế tạo vật dụng cho hãng Boeing, đứng đầu bởi 3 anh em trai Võ Bửu, Võ Tự và Võ Lập. Ông Võ Bửu đại diện đến tham dự cho rằng “Các bà vợ chỉ ở nhà lo chăm sóc gia đình chồng con không cần có mặt ở hãng” và sự thành công của các ông là nhờ vào sự cần cù, lòng đoàn kết và tình thương yêu, hy sinh của gia đình. Anh Quý Tôn, người được gọi là King of Nail Supplies, với giọng nói điềm tĩnh pha chút hài hước, chiếm cảm tình của khán giả. Nhưng phải nói anh Daniel Phú, người thấp hơn ông Nguyễn Ngọc Ngạn gần một cái đầu, là người “impress” tôi nhiều hơn cả. Anh rất tự nhiên, vui vẻ, hài hước và tỏa ra một niềm tin vô bờ bến về nghệ thuật của mình, khi đề nghị gắn lông mi giả cho ông Nguyễn Ngọc Ngạn. Thân chủ của anh toàn là sao cỡ bự, từ Oprah Winfrey tới J. Lo, hình cho thấy anh đang gắn lông mi trong bộ quần áo phòng mổ với găng tay, kiếng, mặt nạ rất gồ ghề và... hạp vệ sinh. Độc đáo nhất là tiệm gắn lông mi của anh ở Beverly Hills có tên là “Lông Mi by Daniel”. Hỏi tại sao không đề tiếng Mỹ, anh trả lời vì “tôi là người Việt Nam”. Tôi khoái anh này quá và tự hẹn sẽ có ngày lên Beverly Hills kiếm cái tiệm của anh.

Còn anh fashion designer Calvin Trần, khi xuất hiện cùng 2 nhà tạo kiểu khác là Thiện Lê và Kim Trần, đã đưa ra những lời khuyên về fashion khá chí lý, là cô nào có cái gì đẹp như chân dài, ngực to... nên khoe ra hết. Những người này là những nhà tạo kiểu đang lên, đang có những cửa hàng fashion xịn ngay tại New York.


MC khỏi chê

Nguyễn Ngọc Ngạn với giọng nói, phong cách điềm tĩnh nhưng có duyên và hài hước, cộng thêm kiến thức sâu rộng về văn hóa Việt Nam, lẫn sự chuẩn bị chu đáo, dĩ nhiên là MC không đối thủ từ nhiều năm qua trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại.


DSC_0128.jpg



MC và divas


Cô Kỳ Duyên trong những bộ áo dài thật đẹp, vẫn có duyên và đặc biệt là càng ngày càng hiểu biết thêm nhiều về văn hóa Việt Nam. Trịnh Hội trẻ tuổi đẹp trai có sức thu hút, nhưng có lẽ còn cần thêm thời gian để học nghề ông Ngạn.

Tôi ra về với lòng thán phục công ty Thúy Nga đã tổ chức những show càng ngày càng trôi chảy dù rất dài, chứng tỏ một sự phối hợp rất nhịp nhàng, những đầu óc tổ chức ngày càng tinh vi. Tôi chờ đón mua băng DVD - dĩ nhiên là băng gốc - để xem lại những màn trình diễn kể trên, đồng thời để biết thêm về những gương thành công Việt Nam khác, nghe nói là không giống với show ngày Chủ Nhật mà tôi đã đi xem. Còn show “Divas” ngày thứ Tư nữa, nghe nói là cũng rất hay, chờ mua DVD xem vậy.

******************
source

Vien Dong Daily

Tuesday, 22 December 2009

Đêm đông ấm cho trẻ không nhà nhân mùa Giáng Sinh


- Một triển lãm tổng hợp tranh, ảnh đã được tổ chức tại nhà thờ Ba Chuông, TP.HCM nhân mùa Giáng sinh để bán gây quỹ từ thiện giúp trẻ em nghèo ăn Tết.

Đêm đông 1 - họa sĩ Lê Hiếu

Triển lãm gồm 149 tác phẩm của 50 họa sĩ, nhà điêu khắc và 9 nhiếp ảnh gia có chủ đề Đêm đông không nhà. Một nửa doanh thu từ việc bán tác phẩm sẽ được dùng làm quỹ từ thiện lì xì cho trẻ em nghèo, cơ nhỡ vào đêm giao thừa Tết Canh Dần 2010.

Linh mục Vũ Đức Trung, người điều hành Trung tâm Mục vụ Đa Minh - Ba Chuông cho biết các nghệ sĩ tham gia đã vui vẻ điều chỉnh giá nhằm giúp việc bán tranh, ảnh được thuận lợi hơn và hiện đã có nhiều nhà sưu tập tranh ảnh và mạnh thường quân đặt mua.

2.jpg
Các tác phẩm Tuổi thơ, Sau cơn bão và Hồn nhiên của nhiếp ảnh gia Trần Thế Phong

Năm bức ảnh của nhiếp ảnh gia Hoàng Quốc Tuấn, người vừa được phong tước hiệu M.FIAP - nghệ sĩ bậc thầy của Liên đoàn nhiếp ảnh nghệ thuật quốc tế, đã bán hết ngay trong ngày đầu tiên. Ba tác phẩm của nhiếp ảnh gia chuyên chụp ảnh trẻ em, Trần Thế Phong, cũng đã được mua.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Thập giá tôi - Nguyễn Anh Khoa, Đêm đông - Minh Hưng
Đợi xuân - Nguyễn Chí Tình
Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Jesus - Thanh Phương, Đêm đông 2 - Lê Hiếu

Nhiếp ảnh gia xuất thân từ trẻ đường phố Trần Thế Phong cho biết: "Tôi đã tham gia nhiều triển lãm ảnh nhưng đây là lần đầu tiên tôi được đồng nghiệp mời đến với một triển lãm tổng hợp các loại hình và giảm giá tác phẩm để làm từ thiện. Hy vọng tác phẩm của tôi có thể góp được một chút lửa để trẻ em nghèo được ấm trong những ngày Tết".

Triển lãm Đêm đông không nhà kéo dài đến hết ngày 28/12/2009 tại Trung tâm Mục vụ Đa Minh - Ba Chuông, 190 Lê Văn Sĩ, TP.HCM.

Mô tả ảnh. Mô tả ảnh.
Hoài cổ - Tạ Văn Mãnh, Hội lân - Phó Bá Cường
Hương vị ngày xuân - Tạ Văn Mãnh
  • Lê Tám

  • source
  • Đêm đông ấm cho trẻ không nhà nhân mùa Giáng Sinh

    Cập nhật lúc 12:10, Thứ Tư, 23/12/2009 (GMT+7)
  • http://www.vietnamnet.vn/vanhoa/200912/Dem-dong-am-cho-tre-khong-nha-nhan-mua-Giang-Sinh-885785/

Saturday, 5 December 2009

Tản mạn mây tre


Tản mạn mây tre
Cập nhật lúc 2:47:06 AM - 03/11/2009

237h1.jpg


Ngõ tre về xóm


Bài và ảnh: Trần Công Nhung

Đã là người Việt Nam mấy ai mà không nghe nói đến mây tre. Đồ dùng đong đựng trong nhà hầu như toàn bằng tre mây: Từ cái rế nồi, đôi đũa ăn, khay trầu, thúng mẹt, nong nia, giường chõng… cho đến chuồng trâu chuồng bò, nhà cửa, đều bằng tre. Nước Việt ba miền đều có tre, tre trong mọi ngóc ngách thực dụng hàng ngày của dân quê. Tre quanh nhà, tre bao bọc thôn xóm, tre dọc đường cái qua làng.

Vẻ đẹp của Đa Đề là vẻ đẹp nam nhi mạnh mẽ, oai phong chững chạc, Tre đẹp mềm mại lả lướt, thanh thoát hơn. Đa Đề ở nơi đình chùa miếu mạo, Tre gần gũi người dân hơn. ‘Ăn măng luộc, ngủ giường tre’.

Tre cũng phân ra đực cái, tre đực đặc ruột, cứng, khó mối mọt, lâu hư mục, dùng làm giàn bầu bí, chuồng trại, bắc cầu qua sông lạch….. Tre cái rỗng ruột, mỏng da lóng dài, để đan lát hay làm lạt buộc đồ. Thôn quê mà thiếu tre người dân sẽ lúng túng trong nhiều công việc hàng ngày. Thời xa xưa, trẻ nhỏ làng quê học vần bằng những chữ cái viết trên miếng tre, hoặc mo cau. Bút cũng bằng tre, mực là nước hột mồng tơi tím. Ở vùng Trà Cổ (Móng Cái), thuyền đánh cá còn cặp nhiều tre hai bên mạn, phòng khi gió bão. Tre không có gì gọi là thừa thãi, ngay cả cành nhánh, cũng làm chuôm cho cá đìa, cá ao, hoặc phơi khô đun bếp, tăm tre nhiều người vẫn thích hơn tăm gỗ vì không bị gãy trong chân răng khi xỉa.

Tre tuy không mang ý nghĩa quân tử như Trúc, nhưng đa dụng hơn, nhờ thể chất cứng bền. Dân làng quê thời xưa còn đi guốc tre, na ná guốc gỗ Nhật Bản.


237h3.jpg



Tượng gốc tre


Ngày nay gốc tre là vật liệu cho nghệ sĩ điêu khác. Nhiều tác phẩm điêu khắc trên gốc tre rất độc đáo, hấp dẫn khách phương Tây. Những chân dung bằng gốc tre mang nét cổ kính và cao đạo, không trơn tru bình dị như tượng gỗ thông thường. Trường thi ngày xưa dùng bảng cót (tre đan), để viết tên những người bị rớt. Về sau, dù danh sách đánh máy nhưng danh từ “bảng cót” vẫn dùng.

Tre cũng có nhiều loại khác nhau: Tre vàng, tre cán giáo (thân nhỏ bằng cổ tay, nhiều ở miệt Biên Hòa) tre xanh. Họ hàng với Tre còn có Lồ ô, Bương, Giang, Trúc, Hóp…Sặc, lớn nhỏ khác nhau không rõ do lẽ gì, mỗi giống sống theo từng vùng riêng. Tre dưới đồng bằng, Lồ ô trên rừng. Người ta trồng tre, trúc, không ai trồng lồ ô. Một loại cỏ thân bằng cây tăm, cao khoảng 20 phân rất giống cây trúc thu nhỏ, giới chơi non bộ gọi là “Thảo Trúc”. Non bộ và tiểu cảnh biết khai thác giống Thảo Trúc này, sẽ làm cho tác phẩm sống động, duyên dáng và thực hơn.


237h2.jpg


Bến Kim Long (Huế)


Ở miền Trung có một giới chuyên lên rừng chặt Lồ ô, kết thành bè theo sông về xuôi. Nha Trang có bến Lồ ô bên cầu Hà Ra, Huế có đường Hàng Bè dọc sông Gia Hội cũng là bến Lồ ô. Hình ảnh một tốp bè nối đuôi trên sông Cái (Nha Trang), trên sông Hương (Huế), mỗi bè hai người chống, đẹp biết bao, bây giờ ít thấy, vì nguồn nguyên liệu cạn kiệt. Mặt khác giao thông ngày nay vào tận “vùng sâu vùng xa” (thâm sơn cùng cốc), chuyên chở bằng xe vận tải tiện lợi hơn.

Lồ ô có dáng hiền hòa hơn tre, đặc biệt thẳng cây, đốt dài gấp mấy lần, rất tiện cho công việc làm nò cá, thúng chai, ghe câu… mành treo trước nhà, ngay cả “kỹ nghệ” làm lồng chim cũng cần lồ ô lóng dài (1). Những người hút thuốc lào nhất thiết phải có một đốt tre cái vừa phải để làm chiếc điếu cày: Ống tre cắt một đầu mắt, khoét một lỗ nhỏ cách đầu mắt kia chừng mươi phân, gắn nồi thuốc tựa như nồi thuốc ống điếu (dố), đổ nước tới mức nồi thuốc. Khi hút vê thuốc nhét vào nồi, kê mồm vào miệng ống, châm lửa hít một hơi dài cho cháy hết thuốc, từ từ nhả khói ra. Nếu ngắn hơi, bặp bặp (vừa hít vừa thở) nhiều lần, lần sau cùng cố một hơi cho cháy cạn thuốc. Nhìn một người hút thuốc lào sành điệu, tôi thấy có cái gì đó vừa thành khẩn say mê, quên hết sự đời, vừa cho một hình ảnh rất đẹp lúc nhả khói. Dân thuốc lào còn phân biệt điếu cày và điếu ục. Điếu ục bằng ống bương to hơn. Dân miền Tây Bắc thường dùng điếu ục.


Về thực dụng, tre không bền bằng cây gỗ hay kim loại, song về nghệ thuật, tôi thấy tre trội hơn. Chụp ảnh một “cầu tre lắt lẻo” có người quang gánh đi qua, hay chụp một hàng rào tre ngoằn ngoèo có mấy em bé tan trường về, dễ đẹp hơn, dễ gợi cảm hơn là ảnh một cầu đúc hay cầu sắt. Cũng vậy, nhìn người hút thuốc lào bằng điếu nhôm tôi có cảm giác thuốc không ngon, thiếu đậm đà và không thực…Nếu phải kể công dụng của Tre, Bương…thì còn nhiều nhiều…, tùy nhu cầu và sinh hoạt mỗi địa phương.

Mây đi đôi với Tre, bổ sung nhau trong việc chế tạo đồ dùng hàng ngày, nhất là dân nghềø nông, nghề biển. Mây cũng cho những sản phẩm thủ công giá trị về thẩm mỹ, thu hút khách tiêu thụ không chỉ trong nước mà cả ngoại quốc. Mây đi với tre vì có những phần tre không kham được, như lúc đan kết đồ vật cần sợi dài. Mây rừng dài từ ba bốn mét, mây dai dẻo hơn tre, rất tiện trong công việc tạo hoa văn tỉ mỉ trên đồ dùng (2). Mây hiếm hơn Tre vì Mây ở rừng, thuộc loại dây leo, có vòi gai móc, khó lấy, sơ ý là bị rách da. Ghế mây, gối mây, giỏ mây… Mây làm ra những mặt hàng cao sang đắt giá hơn. Cùng họ với Mây có Song, thân lớn, cứng chắc, làm sườn ghế bàn, hoặc chẻ ra thành sợi nhỏ để đan. Theo những người làm nghề tre đan ở Phú Vinh (3) (huyện Chương Mỹ, Hà Tây) cho biết, thì Song có nhiều ở vùng Quảng Nam Đà Nẵng, và là nguồn cung cấp cho các làng nghề phía Bắc. Mây Tre như đôi bạn chí cốt thường có nhau.

Hình ảnh Tre hiện diện thường xuyên trong đời sống và đi vào lòng người khá sâu đậm, nhất là những ai đã sinh ra và lớn lên giữa lũy tre xanh, thì rất dễ có cảm xúc khi nghe những vần ca dao nhắc đến tre. Mây trên rừng, tre ngay bên hè nhà, tre bao bọc nơi ăn chốn ở, lũy tre làng như hàng rào che chắn gió bão, như ranh giới của một địa phương.


237h5.jpg


Đường làng (Cao Bằng).


“Sau lũy tre xanh” hàm ý gói ghém tình tự quê hương, chốn riêng tư nhiều gắn bó. Ra khỏi lũy tre xanh là tha phương cầu thực, rời xa nơi đã in đậm bao nhiêu kỷ niệm một thời. Cho nên, mỗi khi nhớ quê nhà là hình ảnh lũy tre, bến nước con đò lại hiển hiện ray rứt tâm tư. Tre quả thực ăn sâu vào tâm thức người Việt, từ hình ảnh lũy tre, cho đến những sản phẩm chế tạo từ tre, Tre bàng bạc khắp nơi, Tre nhắc nhở cả gia phong đạo đức. Có lần ghé qua phố cổ Hội An, tôi vô cùng thích thú khi thấy những câu chữ Nho viết trên ống tre hun khói: Phước Như Đông Hải, Khang Thái Giai Lão Bách Niên.(4)


237h4.jpg


Măng tre Phú Thọ


Tre non nhú lên khỏi mặt đất chừng ba bốn mươi phân, gọi là măng, nếu không muốn để thành tre thì bẻ làm thức ăn. Măng thịt mềm, có hương vị hăng hăng đặc biệt, dùng nấu nhiều món ăn mà xứ khác dù có măng cũng không biết. Măng luộc, măng xào, măng chua…thịt xáo măng. Trên nguồn còn có Giang cùng họ với tre, người ta bảo măng giang ngon hơn măng tre, tôi chưa được ăn bao giờ nhưng nghe câu: “Canh măng giang nấu cá ngạnh nguồn”, thấy cũng hấp dẫn. Cá ngạnh, có nơi gọi là cá ngát, là loại cá sông, giống như cá trê, nhỏ bằng ngón tay, thịt ngọt thơm, không mỡ, thôn quê thường kho khô hay nấu canh, tuy vậy làm cá ngạnh dễ bị ngạnh cá châm tay, nhức buốt không chịu nổi nhất là vào mùa rét. Giống cá này ưa châm chích mà kém chịu lạnh. Hồi còn nhỏ tôi có lần đi xúc cá ngạnh, trời rét quá cá nổi đầy trên mặt nước. Từ ngày bỏ quê ra tỉnh, mãi những năm về sau, tôi chưa một lần gặp lại thứ cá nhỏ con ngon thịt này. Ngày nay các quán ăn có món vịt nấu măng, bún măng…Măng khô dùng nấu cỗ bàn vào dịp Tết.


“Con cò mà đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nướng trong,

Đừng xáo nước đục đau lòng còn con”.

(Quốc văn giáo khoa thư) (5)


Trên nguồn còn có măng sặc (Reed), loại tương cận với trúc, thân chỉ bằng ngón tay, người vùng Tây Bắc luộc chắm với muối gia vị đặc biệt. Không quen rất khó ăn (6). Cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Tứ thì có câu:


Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen , Hạ tắm ao.


Tuy thế chưa thấy ai ăn măng trúc, có lẽ măng trúc chẳng đáng bao nhiêu so với măng tre, hơn nữa Trúc là loài đặc biệt quí phái, được dùng làm biểu tượng cho người quân tử. Ngõ vào nhà thường trồng trúc hai bên. Ngày trước cụ Tam Nguyên Yên Đổ mượn trúc nói về cảnh thanh bần lạc đạo:


“'Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.


Thời Đệ nhất cộng hòa ở miền Nam, con dấu của chính phủ dùng hình khóm trúc do ý nghĩa: “Tiết trực tâm hư” (đốt thẳng, ruột rỗng – chí công vô tư). Trúc được chọn trong bộ tranh Tứ Bình nói về hoa lá bốn mùa: Mai, Lan, Cúc, Trúc.


(Còn tiếp)

Trần Công nhung

05-2008


(1)Lồng chim cần lóng dài, như lồng Họa Mi, Sơn Ca, lóng ngắn vấp mắt khó chuốt, lồng không đẹp, xem bài Làm Lồng trang 20 BVNCCK.

(2)Sẽ nói rõ trong bài “Nghề tre đan”

(3) Xem “Nghề tre đan” trong những kỳ tới

(4) Phố Hội trang 161 QHQOK tập 1

(5)Giáo dục phong kiến dạy con người có tình có nghĩa, có ý thức đạo đức gia phong, ngày này không còn thấy trong nhà trường. (không có môn công dân, đức dục).

(6) Bản làng Điện Biên trang 143 QHQOK tập 4


Sách đã in: Quê Hương Qua Ống Kính tập 1 đến tập 9, Buồn Vui Nghề Chơi Cây Kiểng, Mùa Nước Lũ (Truyện tình trên quê hương), Về Nhiếp Aûnh, Thăng Trầm (chuyện buồn vui một đời người), sách dày trên 200 trang, mỗi tác phẩm đều có nhiều phụ bản ảnh màu.

Liên lạc: Tran Cong Nhung P.O.Box 254 Lawndale, CA. 90260 email: trancongnhung@yahoo.com Website: www.ltcn.net
*****************************
source
Vien Dong Daily

Friday, 28 August 2009

Ở Sài Gòn, nhớ... Sài Gòn


Ký ức sống Thứ sáu, 28-08-2009


Ở Sài Gòn, nhớ... Sài Gòn

“Như chiếc kén quấn đầy tơ mà tôi là con tằm nhỏ bé ẩn mình sâu bên trong mong tìm chút yên bình…” - Sài Gòn ở đây là một khu náo nhiệt của bến sông Hàm Tử thuộc Q. 5 ngày trước, nơi mà bây giờ, sau gần năm mươi năm ròng rã, tác giả bài viết vẫn thương, vẫn nhớ, và vẫn mang một kỷ niệm nhói lòng từ sau Tết Mậu Thân.

Là một đứa trẻ có cả cha lẫn mẹ, nhưng từ lúc mới tám tháng tuổi tôi lớn lên bằng hơi trầu bà nội và mùi thuốc lá hăng hăng của ông nội. Ba tôi là con trai duy nhất của dòng tộc, lấy vợ hai lần - sinh ra đúng hai cô con gái rồi từ biệt gia đình đi kháng chiến chống Pháp và… mất tin luôn. Ông nội tôi có một số ghe chài rong ruổi khắp miền Tây thu mua lúa gạo, việc kinh doanh rất thành công. Vậy mà khi hai chị em tôi đến tuổi đi học, ông bán hết cơ ngơi về mua nhà ở Sài Gòn để cho cháu nội học hành tới nơi tới chốn.

Nhà gần cầu Xóm Chỉ, cuối đường Tản Đà. Mặt tiền rộng trên mười mét nhìn ra đường Hàm Tử, sau nhà là kinh Tàu Hủ. Thời ấy nhà dân thưa thớt, ít nhà máy xí nghiệp nên dòng kinh nước lớn trong xanh. Láng giềng hầu hết là người Hoa, các cửa hiệu kinh doanh gọi là “chành”, mỗi “chành” có mặt hàng riêng của mình như lúa gạo, phân bón, chất đốt, vật liệu xây dựng… Khu vực đó chỉ có “chành” Thành Ngọc của nội tôi là người Việt, vì thế ông phải thuê hai người tài phú người Quảng Đông để giao tiếp với khách hàng.

Cửa hiệu mở cửa suốt tuần nên mới học lên Trung học đệ nhất cấp (Phổ thông cơ sở - cấp 2 bây giờ), tôi đã thay ông ngồi ghế thu tiền, kiểm tra việc buôn bán của người quản lý và nhân công. Tính lãng mạn, thích đọc sách, làm thơ, nên phải ngồi một chỗ trong căn nhà mặt tiền xe cộ ồn ào, người mua kẻ bán ra vô không ngừng là nỗi buồn lớn nhất của tôi bấy giờ.

Hình như nội đọc được tâm trạng của tôi nhưng không nói gì hết, nội lẳng lặng về quê và trở lên với ba người thợ cùng… một ghe cây. Sau một tháng, không gian riêng của tôi ra đời. Đó là căn gác gỗ rộng khoảng 30m2. Giường, tủ sách, bàn học… được đóng bằng danh mộc nhưng thô, khoe màu vân gỗ mà không hề có một giọt nước sơn. Theo “thiết kế của ông nội” - để tránh ồn ào, căn gác hướng về dòng kinh phía sau nhà, đưa lưng ra đường Hàm Tử. Mặt tiền gác với những thanh gỗ nhỏ bào nhẵn, đóng song song dạng chéo hình thoi, tạo khoảnh sân nho nhỏ đủ

cho tôi trồng mấy dây trầu bà để nó bò lên lan can đong đưa trong gió. Không có đất trồng hoa, cũng không thể làm “vườn treo” vì không gian bé xíu, nhưng đêm về tôi vẫn được dỗ giấc bằng hương ngọc lan nồng nàn tỏa từ… những xâu hoa được treo trên những thanh nẹp gỗ. Gió sông đưa hương ngọc lan vào giấc mơ của cô bé lãng mạn, nuôi mộng ước… Về đêm, nhìn từ xa căn gác giống như chiếc lồng đèn lấp lánh.

Vào những đêm giữa tháng, tôi ngồi ngắm trăng lên tỏa ánh sáng trên mặt nước mênh mông, lăn tăn, sóng sánh vàng… để cô bé 16 trong tôi thấy “Thị tại môn tiền náo / Nguyệt lai môn hạ nhàn”… Đó là những giây phút mơ mộng hiếm hoi ngoài giờ học và phụ việc ở nhà. Không khí náo nhiệt, ầm ĩ của tiếng còi xe, tiếng la lối của công nhân bốc xếp, tiếng rao hàng… của khu phố người Hoa luôn vây chặt tôi như chiếc kén quấn đầy tơ mà tôi là con tằm nhỏ bé ẩn mình sâu bên trong mong tìm chút yên bình và mơ ước sau này lớn lên sẽ mua một căn nhà nhỏ sâu trong hẻm, trước nhà có sân, có cây ngọc lan, có hòn non bộ thả nước chảy róc rách xuống bể cá vàng…

Chán cái nhà mặt tiền đến thế, vậy mà khi tôi rời nó đi kháng chiến và bây giờ gần năm mươi năm ròng rã tôi vẫn thương, vẫn nhớ căn nhà náo nhiệt - nơi tuổi thơ tôi được sống trong tình thương vô bờ bến của ông nội. Chính trong căn nhà đó nội đã khóc ròng khi nghe tôi bị bắn trong một cuộc xuống đường, suốt ngày và đêm ông đi tìm xác cháu khắp các bệnh viện nhưng không chút tăm hơi, cuối cùng chỉ còn việc cúng thất tuần cho cháu nội. Không bút mực nào tả hết niềm vui của nội khi được tin đứa cháu còn sống, đang bị giam ở Tổng nha Cảnh sát. Tháng ngày kế tiếp, nội bỏ công việc đi thăm nuôi đứa cháu mới mười sáu tuổi đã đi vào nhà tù với chiếc áo dài trắng còn đính phù hiệu trường Gia Long. Ra tù, về thăm ông, vui chưa trọn tôi lại dứt áo ra đi - một chuyến đi không hẹn ngày về… Nội đang trông cháu mỏi mòn, thì tôi chợt về nhà như cơn lốc trong đợt Mậu Thân cùng với cả đội vũ trang. Chúng tôi chỉ sống với nội vỏn vẹn chưa đầy tháng mà ngày nào nội cũng đãi những món ngon nhất, mắc nhất. Rồi chia tay nội, lần lượt đi - người hy sinh, đứa vào tù, người thoát vào căn cứ, còn tôi bặt tin luôn...

Từ đó trong căn nhà vắng lặng, việc kinh doanh bắt đầu xuống dốc, rồi hay tin tôi bị bắt, khiến ông nội ngã bệnh. Lúc mê, lúc tỉnh, biết mình gần đất xa trời, ông chỉ ao ước gặp mặt tôi lần cuối, đứa cháu nội mà ông thương yêu và kỳ vọng nhất. Cho đến một hôm ông tỉnh táo, tươi hẳn ra, ông kêu bà nội may cho ông lá cờ đỏ sao vàng treo trên nóc nhà thật cao, để cháu nội ông thấy, chắc chắn cháu sẽ về… Bà nội ứa nước mắt gật đầu và dặn người nhà ngồi trước cửa, hễ ai vào thăm ông nội thì nói giùm như vầy… như vầy… Rồi ông yếu dần, nhưng tinh thần lạc quan bởi ai vào thăm cũng nói là “trên nóc nhà có cờ đỏ sao vàng lớn dữ lắm, đẹp lắm!”. Vài hôm sau ông nhẹ nhàng ra đi mà mắt vẫn hướng ra cửa chờ tôi về nhà…

Năm 1975 tôi về cắm lá cờ đỏ bên mộ, quỳ xuống xin ông tha tội bất hiếu và ao ước: phải chi ông sống lại được dù chỉ một ngày để được nhìn thấy cờ đỏ tung bay khắp hai miền Nam Bắc và hãnh diện vì đứa cháu nội mà ông kỳ vọng nhất đã trở về!

Suốt cả một thời gian dài tôi không dám đi qua con đường Hàm Tử, không trở lại ngôi nhà đầy kỷ niệm mà sau khi ông mất gia đình đã bán đi. Chỉ cần nhìn lại nhà xưa là nỗi đau, niềm thương nhớ ray rứt tôi… Tuổi trẻ tôi có lý tưởng, ông nội ủng hộ con đường tranh đấu của tôi, nhưng chính tôi đã không thể đáp lại ước mơ duy nhất của ông: phút cuối đời được có cháu bên mình.

Chủ mới về xây hẳn ba căn nhà lầu khang trang, nhưng bây giờ ngôi nhà xưa đã giải tỏa để làm xa lộ Đông Tây. Vậy mà thỉnh thoảng tôi cứ đi ngang lối cũ, nhắm mắt lại nhớ về hình ảnh căn nhà ồn ào giữa khu phố náo nhiệt và lá cờ đỏ sao vàng phất phới bay trên nóc nhà như ước vọng của ông tôi.

Bài: THÀNH NGỌC, Ảnh (chỉ có tính chất minh họa): Y.N

(KTNĐ số 2-2008)

**************************

source

http://www.nhadep-magazine.com.vn/web/tintuc/default.aspx?cat_id=648&news_id=1197#content